PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói chung và của các địa phương nói riêng là hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, và một trong những hệ thống quan trọng nhất trong kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đó chính là hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng và hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông nói chung là một bộ phận cơ bản của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, có vai trò tạo điều kiện, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một nền kinh tế hoặc một vùng. Với vị trí và vai trò quan trọng của hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như vậy, thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào có những ưu tiên nhất định cho việc thu hút vốn đầu tư nói chung bao gồm cả vốn trong nước và vốn nước ngoài vào đầu tư cho các hạng mục kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Từ đó nhằm đảm bảo ngành GTVTphát triển nhanh chóng, từ đó thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất hàng hoávà lưu thông hàng hoá giữa các vùng trong cả nước nói chung và các địa phương của thủ đô nói riêng; khai thác sử dụng hợp lýmọi tiềm năng của đất nước nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; cho phép mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá và nâng cao tính đồng đều vềđầu tư giữa các vùng trong cả nước. Tuy nhiên, với đặc thù của các dự án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là những dự án có yêu cầu vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, chính vì vậy phần lớn các hạng mục công trình này chủ yếu các nguồn vốn của nhà nước. Đặc biệt đối với những đô thị lớn như thủ đô Viêng Chăn nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào, yêu cầu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ lại càng có ý nghĩa quan trọng. Với vị trí, vai trò là Thủ đô của cả nước, là trung tâm kinh tế, chính trị, du lịch, thương mại và văn hoá, kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ của thủ đô Viêng Chăn còn có ý nghĩa tiên phong so với các thủ đô và các khu tập trung dân cư khác.
Chính vì vậy yêu cầu thu hút các dòng vốn đầu tư lại càng có ý nghĩa và vai trò quan trọng. 2 Trong thời gian qua, thủ đô Viêng Chăn đã có nhiều dự án đầu tư xây dựng giao thông với tổng số vốn lên tới hàng ngàn tỷ kip. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều dự án chậm triển khai thực hiện để đưa vào sử dụng. Sự chậm trễ này có tác động nhiều tới cảnh quan, môi trường, tới đời sống của các hộ dân trong khu vực dự án và dẫn đến hiệu quả kinh tế xã hội không cao.
Vì thế đòi hỏi có sự quan tâm thích đáng của các cấp quản lý đô thị, nhằm giả quyết dứt điểm tình trạng chậm trễ tiến độ và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội cho Thủ đô Viêng Chăn. Một trong những nguồn vốn có đóng góp lớn cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ bên cạnh vốn ngân sách nhà nước của thủ đô Viêng Chăn đó chính là vốn ODA, năm 2017 theo kết quả thống kê của Sở Giao thông vận tải thủ đô Viêng Chăn, vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ chiếm khoảng gần 20% tổng nguồn vốn cho các hạng mục này, khoảng 847,755 tỷ kíp. Chính sự hỗ trợ rất lớn từ nguồn vốn ODA mà tính đến hết năm 2017, hệ thống giao thông đường bộ của thủ đô Viêng Chăn đã có những bước phát triển tương đối rõ ràng, số km đường quốc lộ đạt khoảng 755,4Km, đường thủ đô đạt khoảng 617,7 Km. Tuy nhiên, với yêu cầu và vị trí quan trọng của phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, bên cạnh những kết quả đạt được đó, việc thu hút vốn ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tải thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào chưa đáp ứng được yêu cầu về vốn cho các hạng mục này: Vốn ODA thu hút còn hạn chế về quy mô, tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng vốn ODA dành cho phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ còn thấp.
Chính vì vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài: “Thu hút ODA phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tại thủ đô Viêng Chăn nước CHDCND Lào” là cần thiết. Tổng quan nghiên cứu Thu hút vốn đầu tư nói chung, thu hút ODA nói riêng, lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nhận được sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn của các nhà hoạch định chính sách với những cách tiếp cận khác nhau: 3 Đào Tăng Định với đề tài, Hoàn thiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ trên địa bàn thủ đô Bình Định đến năm 2020, nghiên cứu tập trung khía cạnh đầu tư dự án giao thông đường bộ, chỉ nghiên cứu ở khía cạnh hoạt động đầu tư xây dựng giao thông đường bộ tại Bình Định, không đề cập nhiều đến khía cạnh tài chính. Nói cách khác, công trình chỉ tập trung nghiên cứu các khía cạnh quản lý dự án như: Quản lý tổng hợp dự án, quản lý phạm vi dự án, quản lý thời gian dự án, quản lý chi phí dự án, quản lý chất lượng dự án, quản lý nhân lực dự án, quản lý thông tin dự án, quản lý hồ sơ và quản lý rủi ro dự án. Nguyễn Xuân Long (2010), Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2003-2008.Thực trạng và giải pháp.
Tác giả đã làm rõ thêm những vấn đề lý luận chung về những vấn đề chung về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN, nêu ra thực trạng đầu tư phát triển giao thông đường bộ Việt Nam bằng nguồn vốn NSNN ở thời điểm nghiên cứu, những quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường đầu tư phát triển giao thông đường bộ Việt Nam. Cù Minh Đạo (2014), Một số giải pháp thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn thủ đô Hồ Chí Minh. Mặc dù tên đề tài là nghiên cứu cả khía cạnh huy động và quản lý sử dụng nguồn FDI đối với cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn thủ đô Hồ Chí Minh, song đại bộ phận công trình nghiên cứu của học viên tập trung vào mảng huy động, còn vấn đề quản lý sử dụng chưa được nghiên cứu sâu cả khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn. Điểm nổi bật của công trình là đi sâu nghiên cứu phân tích lợi thế của việc huy động FDI gắn với những điều kiện thuận lợi về hạ tầng kinh tế và công cuộc cải cách thủ tục hành chính của thủ đô Hồ Chí Minh.
Nguyễn Ngọc Quang (2008), Vốn ODA trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông Hà nội, luận văn chỉ tập trung trình bày kết cấu lý luận và thực tiễn huy động nguồn ODA gắn với những đặc điểm Kinh tế xã hội của thủ đô - nơi mà cả nguồn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong những năm qua có mức đầu tư lớn. Tuy vậy, luận văn vẫnxác định việc thu hút nguồn ODA đối với Hà Nội vẫn phải có sự quan tâm đặc biệt. 4 Nguyễn Thị Hồng Thủy (2016) luận án: “Viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong bối cảnh Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC)”.Luận án đã nêu rõ các đặc điểm mới trong việc huy động và sử dụng vốn ODA trong điều kiện quốc gia có thu nhập trung bình (MIC), theo đó việc chuyển từ quan hệ viện trợ sang quan hệ đối tác phát triển, đòi hỏi sự nỗ lực với tinh thần chủ động của Việt Nam để sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn này mà không chịu sức ép “khát vốn” và đi tới “từ chối” ODA ưu đãi trong tương lai. Luận án đã làm rõ nội hàm của viện trợ phát triển chính thức trong điều kiện Việt Nam là nước thu nhập trung bình (MIC) không chỉ bao gồm vốn ODA không hoàn lại và vốn ODA vay ưu đãi mà còn bao gồm các khoản vay kém ưu đãi (nhưng vẫn có tính ưu đãi hơn vay thương mại).
Thêm vào đó, luận án đã xác định được quy luật của ODA cùng với quá trình phát triển của một quốc gia đưa vào trường hợp cụ thể là Việt Nam. Từ đó, tác giả đã xây dựng lộ trình ODA ở Việt Nam song hành cùng quá trình phát triển trong bối cảnh nước có thu nhập trung bình. Đồng thời, Luận án cũng đưa ra những phân tích về việc: cùng với lộ trình tốt nghiệp ODA, quốc gia có thu nhập trung bình cần bắt đầu tính đến chiến lược cung cấp ODA của riêng mình như một công cụ ngoại giao và mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư với các nước chậm phát triển thu nhập thấp khác. Luận án cũng đã xác định được tính chất của các nhân tố ảnh hưởng đến ODA tại Việt Nam trong bối cảnh MIC (mối liên kết kinh tế-chính trị, mối quan hệ đối tác chiến lược cũng như quyền tự chủ).
Luận án đã luận giải được 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến ODA trong bối cảnh MIC tại Việt Nam: (1) nhóm nhân tố xuất phát từ phía cung cấp viện trợ (chiến lược, chính sách viện trợ của nhà tài trợ; tình hình kinh tế, chính trị cũng như các biến động bất thường có thể xảy ra ở phía nhà tài trợ; bầu không khí quốc tế và sự phát triển các mối quan hệ kinh tế, chính trị giữa hai phía tài trợ và nhận tài trợ) và (2) nhóm nhân tố từ phía Việt Nam (môi trường kinh tế chính trị tại Việt Nam; chính sách của nhà nước đối với ODA và năng lực hấp thu vốn ODA của Việt Nam). Tại nước CHDCND Lào việc nghiên cứu chủ đề này là rất ít và phần lớn là các cơ quan có thẩm quyền như sở kế hoạch đầu tư, sở giao thông vận tải đứng ra 5 nghiên cứu và nghiên cứu một cách tổng quát tức là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội 5 năm của các tình thủ đô.