Chương 1: Những vấn đề chung về thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Sở Kế hoạch và Đầu tư. Chương 2: Thực trạng thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2013 – 2018. Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức đến năm 2025. 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU HÚT NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƢ 1.
Khái niệm cơ bản 1. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA là tên gọi tắt của từ tiếng Anh: Official Development Assistance có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức (hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức). Khái niệm ODA được Ủy ban Viện trợ phát triển của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) chính thức đề cập vào năm 1969. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang phát triển, được các cơ quan chính thức của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ.
ODA phát sinh từ nhu cầu của một quốc gia, một địa phương, một ngành được tổ chức quốc tế hay nước hỗ trợ ODA xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền bên nhận và bên hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được quy định trong công pháp quốc tế. ODA được đề cập lần đầu trong Nghị định số 87/CP ngày 05/8/1997 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức. Theo đó, ODA bao gồm khoản viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi với phần không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vay.
Tại khoản 23, Điều 3 – Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài quy định: “Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội”. Luận văn sử dụng khái niệm nguồn vốn ODA theo quy định tại khoản khoản 23, Điều 3 – Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài làm cơ sở để phân tích và đánh giá. Thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 5 Thu hút được hiểu là việc lôi kéo, hấp dẫn, kêu gọi để có thể tiếp nhận được sự chú ý, quan tâm của một chủ thể hoặc đối tượng này đối với một chủ thể hoặc đối tượng khác. Thu hút nguồn vốn ODA được hiểu một cách chung nhất là việc sử dụng các biện pháp, chính sách của các nước đang phát triển hoặc của một địa phương để kêu gọi các cơ quan chính thức của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ cung cấp vốn ODA cho nước mình hoặc địa phương mình.
Trên cơ sở khái niệm về nguồn vốn ODA theo Tại khoản 23, Điều 3 – Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, thu hút nguồn vốn ODA của Việt Nam được hiểu là việc sử dụng các biện pháp, chính sách để kêu gọi các nhà tài trợ nước ngoài cung cấp vốn cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua nhiều hình thức khác nhau phù hợp với lợi ích chung của nhà tài trợ và bên nhận tài trợ. Thu hút ODA đối với một địa phương cấp tỉnh được hiểu là việc sử dụng các biện pháp, chính sách để kêu gọi sự ủng hộ các nhà tài trợ nước ngoài cung cấp nguồn vốn ODA cho địa phương bên cạnh việc đảm bảo lợi ích chung của nhà tài trợ với bên nhận tài trợ còn phải đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương đó. Tăng cường thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức Tăng cường thu hút nguồn vốn ODA là việc áp dụng các biện pháp, chính sách để các nhà tài trợ nước ngoài tin tưởng, ưu tiên, đẩy mạnh việc cung cấp vốn cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua nhiều hình thức khác nhau phù hợp với lợi ích chung của nhà tài trợ và bên nhận tài trợ. Phân loại, đặc điểm và phƣơng thức cung cấp nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1.
Phân loại nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức 1. Phân loại theo tính chất - Vốn ODA viện trợ không hoàn lại: Theo quy định tại khoản 23, Điều 3 – Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 6 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài: Vốn ODA viện trợ không hoàn lại là vốn ODA không phải hoàn lại cho nhà tài trợ nước ngoài. Vốn ODA viện trợ không hoàn lại được ưu tiên sử dụng để thực hiện chương trình, dự án hỗ trợ xây dựng chính sách, phát triển thể chế, tăng cường năng lực con người; hỗ trợ trực tiếp cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường cho người dân, nhất là người nghèo ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc; phát triển y tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; chuẩn bị chương trình, dự án sử dụng vốn vay ODA. - Vốn vay ODA: Theo quy định tại khoản 23, Điều 3 – Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài: Vốn vay ODA là loại vốn ODA phải hoàn lại cho nhà tài trợ nước ngoài với mức ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc và 25% đối với khoản vay không ràng buộc (Phương pháp tính yếu tố không hoàn lại được nêu chi tiết tại Phục lục I của Nghị định số 16/2016/NĐ-CP ngày 16/3/2016 của Chính phủ về quản lý, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài).
Vốn vay ODA được ưu tiên sử dụng để chuẩn bị và thực hiện chương trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước có khả năng tạo nguồn thu để phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội. - ODA cho vay hỗn hợp: ODA theo hình thức này bao gồm một phần là ODA không hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi theo các điều kiện của OECD.Trong giai đoạn hiện nay, nguồn ODA viện trợ không hoàn lại có xu hướng ngày càng giảm dần thay vào đó là nguồn vay ODA và nguồn ODA cho vay hỗn hợp có xu hướng tăng dần. Phân loại theo nguồn cung cấp - ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước khác thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ mà không thông qua bên 7 thứ ba. Nhà tài trợ song phương bao gồm: Chính phủ các nước Ai-len, Anh, Ấn-độ, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa, Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Hung-ga-ri, I-ta-li-a, Lúc-xăm-bua, Ma-lai-xi-a, Mỹ, Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôx-trây-li-a, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Xinh-ga-po; Tổ chức chính phủ được chính phủ nước ngoài ủy quyền: Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) và các tổ chức có địa vị pháp lý tương tự khác.
- ODA đa phương: Là nguồn hỗ trợ các tổ chức đa phương tài trợ cho các nước đang phát triển mà các nước này là những thành viên chính thức của tổ chức đa phương đó. Nhà tài trợ đa phương bao gồm: Định chế và quỹ tài chính quốc tế: Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID), Quỹ Cô-oét, Quỹ Đầu tư Ả-rập, Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Ngân hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB); Tổ chức quốc tế và liên Chính phủ: Liên minh châu Âu (EU), Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR), Chương trình chung của Liên hợp quốc về Phòng chống HIV/AIDS (UNAIDS), Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Chương trình Định cư con người của Liên hợp quốc (UN-HABITAT), Chương trình Tình nguyện của Liên hợp quốc (UNV), Cơ quan của Liên hợp quốc về bình đẳng giới và nâng cao quyền năng cho phụ nữ (UN Women), Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc (FAO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), Quỹ Nhi đồng của Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA), Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD), Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Đầu tư phát triển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ Toàn cầu phòng chống AIDS, lao và sốt rét, Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC), Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC); Các 8 nhà tài trợ nước ngoài khác cung cấp vốn ODA, vốn vay ưu đãi cho Nhà nước và Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Phân loại theo mục đích - Hỗ trợ cơ bản: Là nguồn vốn ODA được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và môi trường. Nguồn vốn ODA cho mục đích này thường là vốn vay ODA.
- Hỗ trợ kỹ thuật: Là nguồn vốn ODA thông qua thông qua các chuyên gia quốc tế, các tổ chức tài trợ để thực hiện việc chuyển giao công nghệ, truyền đạt những kinh nghiệm quản lý những bí quyết kỹ thuật cho nước nhận tài trợ, xây dựng năng lực, nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư, hoàn thiện thể chế, đào tạo nguồn nhân lực,… Nguồn ODA cho mục đích này thường là viện trợ không hoàn lại.