Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Chương 2 : Thực trạng thu hút FDI vào địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 2011 Chương 3: Định hướng và các giải pháp tăng cường thu hút FDI vào tỉnh Thừa Thiên Huế Luan van 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI (FDI) 1. TỔNG QUAN VỀ FDI. Khái niệm về FDI. Vốn đầu tư là yếu tố vật chất quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Nguồn vốn trong nước không thể đảm bảo cho nhu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Chính vì vậy, mỗi quốc gia đều phải bổ sung nguồn vồn cho mình bằng cách thu hút vốn từ bên ngoài. FDI là một trong những kênh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, có nhiều quan niệm về FDI: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty.2] Quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment) là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó.3] IMF nhấn mạnh đến 3 yếu tố của FDI đó là: tính lâu dài của hoạt động đầu tư, chủ thể đầu tư là nước ngoài và mục đích đầu tư là dành quyền kiểm soát trực Luan van 5 tiếp hoạt động quản lý doanh nghiệp.
Theo Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”.2] Khái niệm này nhấn mạnh chủ đầu tư là người nước ngoài nhằm xác định được tư bản được chuyển dịch trong FDI nhất thiết phải vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Tóm lại, tuy còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, các định nghĩa trên đã nhận dạng FDI trên các khía cạnh: Đây là loại hình đầu tư dài hạn bởi hoạt động đầu tư này gắn liền với việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh sản xuất, kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư. Vốn FDI có bản chất là dòng chu chuyển vốn có thời hạn tương đối dài. Vốn FDI đi liền với công trình, dự án đầu tư ở một địa điểm cụ thể nên nó có tính ổn định tương đối cao, dễ theo dõi, dễ kiểm soát, không biến động quá bất thường như các dòng tiền ngắn hạn hoặc các khoản đầu tư gián tiếp.
Nhà ĐTNN là đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi ích từ kết quả sản xuất, kinh doanh căn cứ vào mức độ góp vốn. Nhà ĐTNN cần phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn của dự án FDI để được tham gia vào ban điều hành, tuỳ theo luật đầu tư của mỗi nước quy định. Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005, số vốn tối thiểu của nước ngoài phải chiếm ít nhất 30% tổng số vốn pháp định của dự án, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định. Bản chất và đặc điểm của FDI : Về bản chất: FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư và một bên khác là nước nhận đầu tư.
Như vậy, một mặt nhà ĐTNN có nhu cầu đầu tư vốn ra nước ngoài, trong khi đó nước nhận đầu tư có khả năng đáp ứng nhu cầu đó của nhà ĐTNN. Mặt khác, nước nhận đầu tư có nhu cầu tiếp nhận vốn FDI, trong khi các nhà ĐTNN có khả năng đáp ứng nhu cầu đó, nên bản chất của đầu tư trực tiếp nuớc Luan van 6 ngoài là sự gặp gỡ cung cầu của nhà ĐTNN và nước nhận đầu tư. Điều đó đã giải thích rằng FDI được hình thành như thế nào? và vì sao có FDI? Đặc điểm của FDI: - Đây là hình thức đầu tư mà các nhà ĐTNN tự mình ra quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nước nhận đầu tư. Đầu tư theo hình thức này, các nhà ĐTNN không dễ ràng rút vốn ra trong thời gian ngắn.
- Nhà ĐTNN tham gia điều hành hoặc điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư mặc dù thường có bất đồng về ngôn ngữ, văn hoá với nước nhận đầu tư. - Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ. - Nước nhận đầu tư tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài thông qua các chương trình đào tạo, hoặc qua việc trực tiếp tham gia quản lý. - Nhà ĐTNN sau một thời gian đầu tư, họ có thể mở rộng đầu tư bằng nguồn lợi nhuận thu được của dự án đầu tư.
Phân loại FDI Có nhiều cách phân loại FDI khác nhau tùy vào từng giác độ tiếp cận. Dưới đây là một số cách phân loại FDI: 1. Theo hình thức thâm nhập. Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại.
Mua lại và sáp nhập (Mergers & Acquisitions) qua biên giới. Mua lại và sáp nhập (M&A) qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động. Các hình thức của sáp nhập bao gồm: - Sáp nhập theo chiều ngang: là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công ty trong cùng một ngành kinh doanh (hay có thể nói là giữa các đối thủ cạnh tranh) - Sáp nhập theo chiều dọc: là hình thức sáp nhập của các công ty khác nhau Luan van 7 trong cùng một dây chuyền sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Có 2 dạng sáp nhập theo chiều dọc là: Liên kết giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất, sáp nhập theo chiều ngang là: Liên kết giữa công ty sản xuất và nhà phân phối.
Sáp nhập theo chiều dọc diễn ra nhiều trong lĩnh vực dầu mỏ. - Sáp nhập hỗn hợp: là hình thức sáp nhập giữa các công ty kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau. Mục tiêu của những vụ sáp nhập như vậy là đa dạng hóa, và chúng thường thu hút sự chú ý của những công ty có lượng tiền mặt lớn. Hình thức đầu tư mới phổ biến hơn ở các nước đang phát triển và được các nước nhận đầu tư ưa chuộng hơn, trong khi M&A xuất hiện nhiều hơn ở các nước phát triển và được các chủ đầu tư ưu tiên hơn (M&A chiếm 77% FDI ở nước phát triển và 33% FDI ở các nước đang phát triển, chiếm trên 50% FDI toàn thế giới năm 2004)[24, tr.
Theo qui định của pháp luật Việt Nam. Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Doanh nghiệp liên doanh.
"Doanh nghiệp liên doanh" là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Các hình thức BOT, BTO, BT - Hình thức BOT: là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm Luan van 8 quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
- Hình thức BTO: là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. - Hình thức BT: là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT. Tác động của FDI tới nền kinh tế của nƣớc nhận đầu tƣ. Tác động tích cực của FDI.
Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho nhu cầu phát triển kinh tế của nước sở tại. Vào thời kì đầu của quá trình phát triển kinh tế, các nước đang phát triển đều bị thiếu vốn đầu tư do tích luỹ nội bộ thấp hoặc không có tích luỹ nên rất cần nguồn vốn từ bên ngoài bổ sung cho vốn đầu tư phát triển. Vốn FDI không quy định mức vốn đầu tư tối đa mà chỉ quy định mức tối thiểu, do đó cho phép các nước sở tại khai thác được nguồn vốn bên ngoài, làm tăng thêm nguồn lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế.