Thực Hiện Chính Sách Xóa Đói, Giảm Nghèo Tại Huyện Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn

Luận văn thạc sĩ phân tích thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn huyện lộc bình tỉnh lạng sơn, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo Lộc Bình

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi Việt Nam phải chú trọng đến các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách xóa đói giảm nghèo. Đảng và Nhà nước luôn ưu tiên nhiệm vụ này, coi đó là nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn xã hội. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, nhưng vẫn còn một bộ phận dân cư, đặc biệt ở các tỉnh miền núi như Lạng Sơn, vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Huyện Lộc Bình, một huyện miền núi biên giới của Lạng Sơn, đang nỗ lực thực hiện các chính sách giảm nghèo để cải thiện đời sống người dân. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả của các chính sách này tại Lộc Bình.

1.1. Khái Niệm Đói Nghèo và Tiêu Chí Đánh Giá Hiện Nay

Ở Việt Nam, đói và nghèo được định nghĩa riêng biệt. Nghèo tuyệt đối là tình trạng không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống. Nghèo tương đối là tình trạng mức sống dưới mức tối thiểu, thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất. Tiêu chí đánh giá hộ nghèo chủ yếu dựa vào thu nhập bình quân đầu người/tháng, kết hợp với các chỉ tiêu phụ như dinh dưỡng, nhà ở, điều kiện học tập, y tế. Việc xác định chuẩn nghèo là cơ sở để triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

1.2. Bản Chất của Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững

Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội nhằm nâng cao mức sống của người nghèo, giúp họ thoát khỏi tình trạng đói nghèo. Từ góc độ người nghèo, đó là quá trình tiếp cận các nguồn lực phát triển. Từ góc độ vùng nghèo, đó là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất. Chính sách xóa đói giảm nghèo là những quyết định, quy định của Nhà nước được cụ thể hóa trong các chương trình, dự án, nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo.

II. Phân Tích SWOT Chính Sách Giảm Nghèo Tại Huyện Lộc Bình

Việc phân tích SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats) giúp đánh giá toàn diện chính sách giảm nghèo tại Lộc Bình. Điểm mạnh bao gồm sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các chương trình hỗ trợ cụ thể. Điểm yếu là nguồn lực còn hạn chế, tình trạng thoát nghèo chưa bền vững. Cơ hội đến từ sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn, các chính sách ưu đãi đầu tư. Thách thức là địa hình khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, biến đổi khí hậu. Phân tích SWOT là cơ sở để xây dựng các giải pháp phù hợp, phát huy tối đa điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, tận dụng cơ hội và ứng phó với thách thức.

2.1. Điểm Mạnh và Điểm Yếu Trong Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo

Điểm mạnh của chính sách giảm nghèo tại Lộc Bình là sự chỉ đạo sát sao của chính quyền địa phương, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, và nguồn vốn hỗ trợ từ trung ương và tỉnh. Tuy nhiên, điểm yếu là trình độ cán bộ còn hạn chế, công tác tuyên truyền chưa hiệu quả, và sự phối hợp giữa các ban ngành chưa đồng bộ. Tình trạng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn còn tồn tại ở một số hộ nghèo.

2.2. Cơ Hội và Thách Thức Đối Với Xóa Đói Giảm Nghèo Lộc Bình

Cơ hội cho xóa đói giảm nghèo tại Lộc Bình đến từ việc hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp, du lịch. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế. Thách thức là biến đổi khí hậu gây ra thiên tai, dịch bệnh, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Tình trạng di cư lao động cũng làm thiếu hụt nguồn nhân lực tại địa phương.

III. Thực Trạng Hỗ Trợ Sinh Kế Cho Người Nghèo Lộc Bình

Hỗ trợ sinh kế là một trong những giải pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo bền vững. Tại Lộc Bình, các hình thức hỗ trợ sinh kế bao gồm: cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật sản xuất, tạo việc làm, đào tạo nghề. Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình hỗ trợ sinh kế còn hạn chế do nhiều nguyên nhân: nguồn vốn còn ít, thủ tục vay vốn còn phức tạp, kỹ năng sản xuất của người dân còn thấp, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa ổn định. Cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả của các chương trình hỗ trợ sinh kế.

3.1. Các Chương Trình Vốn Vay Ưu Đãi Cho Hộ Nghèo

Các chương trình vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo được triển khai thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH). Các hộ nghèo được vay vốn với lãi suất thấp để phát triển sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, hoặc kinh doanh nhỏ. Tuy nhiên, số lượng vốn vay còn hạn chế so với nhu cầu thực tế. Thủ tục vay vốn còn phức tạp, gây khó khăn cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

3.2. Đánh Giá Hiệu Quả Đào Tạo Nghề Cho Lao Động Nông Thôn

Các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai nhằm nâng cao kỹ năng sản xuất, giúp người dân có thể tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Nhiều người sau khi được đào tạo không tìm được việc làm phù hợp, hoặc quay trở lại làm nông nghiệp.

3.3. Tiếp Cận Dịch Vụ Y Tế Giáo Dục Cho Người Nghèo Lộc Bình

Việc tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục là yếu tố quan trọng để cải thiện đời sống của người nghèo. Tại Lộc Bình, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ, như cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, miễn giảm học phí. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ y tế, giáo dục còn thấp, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đặc biệt ở các xã vùng sâu, vùng xa.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Chính Sách Giảm Nghèo Lộc Bình

Để nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo tại Lộc Bình, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Cần tăng cường nguồn lực đầu tư cho các chương trình giảm nghèo, cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ dân trí, phát triển kinh tế - xã hội. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành, đoàn thể, và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Cần có cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả các chương trình giảm nghèo một cách khách quan và minh bạch.

4.1. Phát Triển Kinh Tế Xã Hội Gắn Với Giảm Nghèo Bền Vững

Phát triển kinh tế xã hội là yếu tố then chốt để giảm nghèo bền vững. Cần tập trung phát triển các ngành nghề có thế mạnh của địa phương, như nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch. Cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, tạo việc làm cho người dân. Cần chú trọng bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh.

4.2. Tăng Cường Nguồn Lực Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo

Nguồn lực là yếu tố quan trọng để thực hiện chính sách giảm nghèo. Cần tăng cường nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động vốn từ các tổ chức, doanh nghiệp, và cộng đồng. Cần sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát. Cần có cơ chế quản lý tài chính minh bạch, công khai.

4.3. Nâng Cao Vai Trò Cộng Đồng Trong Xóa Đói Giảm Nghèo

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo. Cần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của mình trong công cuộc giảm nghèo. Cần tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình hoạch định, thực hiện, và giám sát các chương trình giảm nghèo. Cần phát huy tinh thần tự lực, tự cường của người dân.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Chính Sách Giảm Nghèo Giai Đoạn 2011 2015

Giai đoạn 2011-2015, Lộc Bình đã đạt được những thành công nhất định trong thực hiện chính sách giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 26,46% năm 2010 xuống còn dưới 10% ở nhiều xã. Tuy nhiên, tình trạng thoát nghèo chưa bền vững, thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Cần có những đánh giá khách quan, toàn diện để rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó xây dựng các chính sách phù hợp hơn cho giai đoạn tiếp theo.

5.1. Số Liệu Thống Kê Về Tỷ Lệ Hộ Nghèo Lộc Bình

Theo kết quả tổng điều tra hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, số hộ nghèo qua điều tra năm 2010, có 4. Đầu giai đoạn có 09 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 50% trở lên, hiện nay giảm xuống còn có 02 (xã Ái Quốc, xã Xuân Dương). Bên cạnh đó, huyện còn 08 xã có tỷ lệ hộ nghèo rất cao từ 25% đến dưới 50% và 03 xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 10% đến dưới 25% và 16 xã có tỷ lệ hộ nghèo thấp là dưới 10%.

5.2. Tác Động Của Chính Sách Đến Đời Sống Người Dân

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như sự chỉ đạo của UBND tỉnh Lạng Sơn về xóa đói giảm nhèo trong thời gian qua, tình hình KT-XH của huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn đã có bước phát triển nhất định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên rõ rệt.

VI. Định Hướng Xóa Đói Giảm Nghèo Giai Đoạn 2021 2025 Tại Lộc Bình

Giai đoạn 2021-2025, Lộc Bình tiếp tục xác định xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm. Mục tiêu là giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức thấp nhất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Cần có những giải pháp đột phá, sáng tạo để đạt được mục tiêu này. Cần chú trọng đến việc giảm nghèo bền vững, không để tái nghèo.

6.1. Mục Tiêu Cụ Thể Về Giảm Nghèo Bền Vững Lạng Sơn

Mục tiêu cụ thể là giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân hàng năm từ 2-3%, tập trung vào các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cao thu nhập bình quân đầu người, cải thiện chất lượng cuộc sống. Đảm bảo an sinh xã hội, tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục cho người nghèo.

6.2. Giải Pháp Trọng Tâm Để Xóa Đói Giảm Nghèo Bền Vững

Giải pháp trọng tâm là phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, cung cấp vốn vay ưu đãi. Cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ dân trí. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng, phát huy tinh thần tự lực, tự cường.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ thực tiễn huyện lộc bình tỉnh lạng sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo 1. Khái niệm về nghèo đói và tiêu chí đánh giá nghèo đói 1. Các khái niệm Ở Việt Nam khái niệm về đói nghèo được Bộ LĐTB&XH tách riêng đói và nghèo, không khái niệm chung như thế giới.

Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nhu cầu tối thiểu là những bảo đảm ở mức tối thiểu, những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và sinh hoạt hàng ngày gồm văn hóa, y tế, giáo dục, giao tiếp. Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.

* Chỉ tiêu đánh giá hộ nghèo của Việt Nam Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân một người một tháng (hoặc 1 năm) được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực (gạo) tương ứng một giá trị để đánh giá. Khái niệm thu nhập ở đây là thu nhập thuần túy (tổng thu trừ đi tổng chi phí sản xuất). Tuy nhiên, cần nhấn mạnh chỉ tiêu thu nhập bình quân mỗi nhân khẩu hàng tháng là chỉ tiêu cơ bản nhất để xác định mức đói nghèo của các hộ gia đình. Chỉ tiêu phụ: Là dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại… Mặc dù lấy chỉ tiêu thu nhập cơ bản là biểu hiện bằng 9 giá trị để phản ánh mức sống, tuy nhiên trong điều kiện giá cả không ổn định như ở nước ta thì rất cần thiết sử dụng hình thức hiện vật, phổ biến nhất là quy gạo làm tiêu chuẩn (gạo thường) tương ứng vơi một giá trị nhất định.

Việc sử dụng hiện vật quy đổi tương ứng với một giá trị so sánh với mức thu nhập của người dân theo thời gian và không gian được dễ dàng. Đặc biệt với người nghèo nói chung và người nghèo ở nông thôn nói riêng, chỉ tiêu số lượng gạo nói riêng/người/tháng tương ứng với lượng giá trị nhất định là có ý nghĩa thực tế. - Khái niệm XĐGN: Là tổng thể các biện pháp, chính sách của Nhà nước và xã hội giúp cho một bộ phận dân cư có mức sống nghèo đói được nâng cao, từng bước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, biểu hiện ở tỷ lệ và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói cách khác, XĐGN là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo đói lên một mức sống cao hơn.

Ở góc độ người nghèo, XĐGN là quá trình tác động của điều kiện cộng đồng xã hội, giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Ở góc độ vùng nghèo, XĐGN là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn. - Chính sách và thực hiện chính sách (CSXĐGN) Thuật ngữ “chính sách” hay “chính sách công” đã được dùng khá phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về hính sách và chính sách công.

Theo Franc Ellis co rằng: “trên tầm vĩ mô, chính sách được xem như đường lối hành động mà Chính phủ lự chọn đối với quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đó, có thể là kinh tế, xã hội và môi trường”. 10 Theo Samuelson cho rằng: “Ngay cả khi chính phủ không đưa ra một chính sách trong bối cảnh bất đắc dĩ nào đó để thực hiện mục đích nào đó, thì cũng là một kiểu chính sách”.Anderson, chính sách công là những hoạt động nên hay không nên làm do Nhà nước quyết định lựa chọn”. Dù có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau, đôi khi có quan niệm đồng nhất chính sách và chính sách công nhưng trên bình diện chung nhất, có lẽ cũng sẽ là hợp lý khi cho rằng chính sách và chính sách công có những nét chấm phá khác biệt trong tương đồng. Sự phân biệt này đôi khi phụ thuộc vào tiếp cận và góc độ xem xét.

Trên cơ sở đó, có thể tạm đưa ra quan niệm về chính sách và chính sách công như sau: Chính sách: là những hành vi ứng xử của chủ thể quản lý với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển để đạt được mục tiêu nhất định cho hệ thống hoặc tổ chức Chính sách công: là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế-xã hội theo mục tiêu xác định. Xuất phát từ cách tiếp cận trên, CSXĐGN có thể được hiểu là “Những quyết định, quy định của Nhà nước được cụ thể hoá trong các chương trình, dự án cùng với nguồn lực, vật lực, các thể thức, quy trình hay cơ chế thực hiện nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo hay xã nghèo với mục đích cuối cùng là XĐGN” 1. Tiêu chí đánh giá nghèo đói Trên thế giới, khi đánh giá nước giàu, nghèo trên thế giới, giới hạn đói nghèo được biểu hiện bằng chỉ tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GDP). Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu cho rằng chỉ căn cứ vào thu nhập thì chưa đủ căn cứ để đánh giá, vì vậy bên cạnh chỉ tiêu này tổ chức hội đồng phát triển Hải ngoại (ODC) đưa ra chỉ số chất lượng cuộc sống (PQLI) 11 để đánh giá, bao gồm 3 chỉ tiêu cơ bản sau: tuổi thọ; tỷ lệ xóa mù chữ; tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.

Ở Việt Nam để đo tình trạng đói nghèo nhiều địa phương lấy tiêu chuẩn thu nhập bình quân một khẩu trong một năm. Một số nhà kinh tế lấy tiêu chí lương thực bình quân nhân khẩu, gia đình nào có thu nhập bình quân dưới 30kg gạo/khẩu/tháng được coi là nghèo. Một khung hướng khác lại lấy mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định làm chuẩn, người có mức sống nghèo khổ là người có thu nhập bình quân thấp hơn mức lương tối thiểu. Các chuẩn mực trên có thể đúng với từng địa bàn cụ thể song không thể áp dụng cho mọi đối tượng, mọi vùng miền trên phạm vi cả nước.

Vì vậy, để chọn và phân loại hộ nghèo ở Việt Nam phải xem xét các đặc trưng cơ bản của nó như: Thiếu ăn từ 3 tháng trở lên trong năm, nợ sản lượng khoán triền miên, vay nặng lãi, con em không có điều kiện đến trường (mù chữ hoặc bỏ học), thậm chí phải cho con hoặc bản thân đi kiếm sống qua ngày. Nếu đưa chuẩn mực này ra để xác định thì rất rễ phân biệt hộ nghèo đói ở nông thôn. Theo Bộ LĐTB&XH, trong giai đoạn hiện nay nếu thu nhập bình quân trong hộ đạt dưới 20kg gạo/người/tháng tương ứng với 200.000 đồng/người/tháng là đói. Những năm trước đây ở miền Bắc, đói thường đi đôi với thiếu cân đối lương thực trên địa bàn.

Như vậy, người đói là người không có lương thực dự trữ trong nhà và không có tiền để mua lương thực để sử dụng hàng ngày một thời gian nhất định trong một năm, mặc dù trên thị trường không thiếu lương thực [19]. Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo (giai đoạn 2011-2015): * Chuẩn hộ nghèo: Mức chuẩn xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo chung cho các vùng trong cả nước tại Quyết định số: 09/2011/QĐ-TTg ngày 31/01/2011 của Thủ tướng chính phủ. Quy định mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức dưới đây là nghèo. 12 Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/năm) trở xuống.

Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/năm) trở xuống. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. Tiêu chí tiếp cận nghèo đa chiều và chuẩn nghèo (giai đoạn 2016-2020): * Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều: Thực hiện chương trình quốc gia về GNBV căn cứ Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020: Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020: - Các tiêu chí về thu nhập + Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

+ Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. - Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản + Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; + Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; BHYT; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. 13 Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 - Hộ nghèo + Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống.

Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ cận nghèo + Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chính Sách Xóa Đói Giảm Nghèo Tại Huyện Lộc Bình, Tỉnh Lạng Sơn: Thực Trạng và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình xóa đói giảm nghèo tại huyện Lộc Bình, Lạng Sơn. Tài liệu phân tích thực trạng hiện tại, những thách thức mà địa phương đang đối mặt, và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện đời sống cho người dân. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các chính sách phù hợp để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chính sách giảm nghèo, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện na rì tỉnh bắc kan, nơi cung cấp những giải pháp cụ thể cho việc giảm nghèo bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện bình liêu tỉnh quảng ninh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chính sách dành riêng cho các nhóm dân tộc thiểu số. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện như xuân thanh hóa cũng là một nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu thêm về các mô hình xóa đói giảm nghèo tại các địa phương khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.