Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm về nghèo 1. Khái niệm nghèo Đói nghèo là vấn đề kinh tế - xã hội mang tính chất toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sự phát triển của toàn xã hội. Đói nghèo tồn tại ở tất cả các nước, kể cả các nước có nền kinh tế phát triển.
Mỗi quốc gia đều có quan niệm riêng về đói nghèo tùy thuộc cách thức tiếp cận khác nhau; họ đưa ra các chỉ số, tiêu chí để xác định mức nghèo cụ thể; tuy nhiên, có thể tập trung vào một số quan niệm, khái niệm về đói nghèo như sau: Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 tại Copenhaghen (Đan Mạch) đã định nghĩa về nghèo: "Người nghèo là người mà tất cả những thu nhập của họ nhỏ hơn 1 USD/ngày, đây là số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại" [30, tr.9] Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra quan điểm về nghèo: "Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực" [30, tr. Theo Tổ chức Liên hợp quốc: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị 10 Luan van bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” [16]. Tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc (tháng 9/1993) đã định nghĩa về nghèo đói: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” [30, tr. Định nghĩa này đã đề cập đến nội dung cơ bản của vấn đề đói nghèo là nhu cầu cơ bản của con người.
Ở Việt Nam, khái niệm nghèo cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo đói của ESCAP: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nghèo nhưng theo tác giả luận văn có thể hiểu về nghèo như sau: "Nghèo là tình trạng mà một bộ phận dân cư có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, họ chỉ được thỏa mãn hoặc được hưởng thụ một phần các nhu cầu thiết yếu cơ bản của cuộc sống". Tiêu chí xác định chuẩn nghèo Ngưỡng nghèo (hay còn gọi là chuẩn nghèo): Đây được coi là ranh giới, tiêu chí nhằm phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo để thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của các nước. Chuẩn nghèo quốc gia là mức chi phí cho một loại nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm thiết yếu cho phép con người có cuộc sống khỏe mạnh.
Căn cứ vào mức sống và sự phát triển về kinh tế, văn hóa - xã hội. của người dân các địa phương, đến nay Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã 11 Luan van 07 lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau theo bảng sau: Bảng 1. Sự biến động của chuẩn nghèo qua các giai đoạn Chuẩn nghèo quốc gia Giai đoạn (Thu nhập quốc gia đầu ngƣời/tháng dƣới) Nông thôn Thành thị 1993 - 1995 8kg gạo 13kg gạo 1995 - 1997 13kg gạo 15kg gạo 1997 - 2000 20kg gạo 25kg gạo 2001 - 2005 100.000đ (Nguồn: Web Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Ở Việt Nam hiện nay, căn cứ Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng chính phủ về Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 [25], thì các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Với tiêu chí về thu nhập, Quyết định quy định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng.
Quy định chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 1.000 đồng/người/tháng. Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết định nêu rõ các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: Y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các 12 Luan van dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: Tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. - Tiêu chí xác định chuẩn nghèo: Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: (1) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; (2) Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ cận nghèo khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.
Hộ có mức sống trung bình ở khu vực thành thị là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở 13 Luan van xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016 - 2020. Khái niệm về dân tộc thiểu số 1. Khái niệm về dân tộc Theo nghĩa hẹp, Dân tộc được hiểu là cộng đồng tộc người có mối quan hệ chặt chẽ, bền vững; có chung nguồn gốc lịch sử, sinh hoạt kinh tế và đời sống văn hóa; có ngôn ngữ riêng và có những nét đặc thù về văn hóa; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc.
Theo nghĩa rộng, Dân tộc được hiểu là một quốc gia, rõ hơn là để chỉ một cộng đồng chính trị, xã hội rộng lớn, bao gồm nhiều tộc người, sinh sống ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường lấy ngôn ngữ của tộc người đa số làm ngôn ngữ quốc gia; có lãnh thổ quốc gia, có chung vận mệnh lịch sử, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế; có nền văn hóa vừa thống nhất, vừa đa dạng của quốc gia - dân tộc. Khái niệm về dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu số là khái niệm được nghiên cứu, sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh vực, ngành khoa học khác nhau trên thế giới. Khái niệm Dân tộc thiểu số được sử dụng chính thức trong các văn kiện pháp lý quốc tế và pháp luật các quốc gia: Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1992 đã thông qua thuật ngữ "Dân tộc thiểu số" trên cơ sở dựa vào quan điểm của Giáo sư Francesco Capotorti (đặc phái viên của Liên hợp quốc) đã đưa ra năm 1977: "Dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho một nhóm người: (1) Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này; (2) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; (3) Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ; (4) Đủ tư cách đại diện cho nhóm 14 Luan van dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (5) Có mối quan tâm đến vấn đề bảo tồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo và ngôn ngữ của họ" [12]. Năm 1995, Liên Hiệp Âu Châu cũng đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu số rất gần với quan điểm của Liên Hiệp Quốc: “Dân tộc thiểu số ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của quốc gia thuộc Liên Hiệp Âu Châu và có quốc tịch của khối Âu Châu” [12].
Khái niệm Dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm Dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Ở Việt Nam, khái niệm Dân tộc thiểu số được sử dụng phổ biến trong văn bản pháp luật.