Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Vấn đề đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo 1. Nghèo đói và các tiêu chí đánh giá nghèo đói 1. Khái niệm đói nghèo Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi con người chúng ta để tồn tại được thì cần phải giải quyết được những nhu cầu cơ bản nhất.
Những nhu cầu đó của con người có thể được chia ra làm hai dạng, đó là những nhu cầu về vật chất như: ăn, mặc, ở, đi lại và những nhu cầu về tinh thần như giáo dục, y tế, giao tiếp hay còn gọi là những giá trị của cuộc sống. Những nhu cầu này cần được đáp ứng ở một mức độ nhất định nào đó, mà người ta gọi là mức sống tối thiểu của cộng đồng, nghĩa là nếu không đạt được đến mức này, con người không thể đảm bảo cuộc sống để phát triển một cách bình thường được. Do vậy, khi nghiên cứu đói nghèo chúng ta cần phải nghiên cứu tới nhu cầu, hay còn gọi là mức sống tối thiểu của người dân. Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng: Ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt.
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45. 8 - Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng” Đói nghèo là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu khác nhau mà nghèo đói được phát biểu khác nhau. Về nghèo, theo quan điểm của Liên hiệp quốc đó là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống, như đảm bảo mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế, giáo dục. Như vậy, cách tiếp cận này thông qua các nhu cầu cơ bản để nhận diện, nghèo đói, cách tiếp cận này là tương đối thống nhất và được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, khu vực.
Trong Báo cáo về sự phát triển con người năm 1997 của Liên hiệp quốc còn đưa ra khái niệm nghèo khổ tổng hợp (nghèo khổ của con người). Theo đó, nghèo khổ của con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ đa chiều của con người - là sự thiệt thòi (khốn cùng) theo 3 khía cạnh cơ bản nhất của con người. Chẳng hạn đối với các nước đang phát triển sự thiệt thòi đó là thiệt thòi xét trên khia cạnh cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được xác định bởi tỷ lệ người dự kiến không sống thọ quá 40 tuổi; thiệt thòi về tri thức, được xác định bởi tỷ lệ người mù chữ; thiệt thòi về đảm bảo kinh tế, được xác định bởi tỷ lệ người không được tiếp cận được các dịch vụ y tế, nước sạch và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng. 9 - Khái niệm nghèo đói của tổ chức Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập.
Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Income, PCI) của quốc gia. - Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới (WB), đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối. Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta.
- Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribê đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp. - Khái niệm nghèo đói của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Ngân hàng phát triển Châu Á đã phát Bảng nghèo đói dưới hai hình thức là nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng, tại một thời điểm nào đó.
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống, nghĩa là không có khả năng đạt đến một tiêu chuẩn tối thiểu của cuộc sống [32, 34]. 10 Trên cơ sở những quan niệm về nghèo đói như trên, tại hội nghị chống đói nghèo Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan năm 1993 đã đưa ra một định nghĩa chung về nghèo đói: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán từng địa phương [32, 33]. Khái niệm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính song không thể thống nhất về mặt định lượng. Bởi vì mỗi quốc gia khác nhau thì có mức sống của người dân khác nhau hoặc ngay trong một quốc gia mức sống giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau.
Hơn nữa mặt định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia đó. Vì vậy, mỗi quốc gia tự khảo sát và xây dựng một thước đo mức độ nghèo đói riêng thông qua những tiêu chí cụ thể được xác định và gọi đó là chuẩn nghèo. Trên cơ sở xem xét đến các khía cạnh: mức sống; thu nhập bình quân trên đầu người trong tháng hoặc trong năm đối với các khu vực điển hình; giá trị vật phẩm, hiện vật tiêu dùng; sự thỏa mãn nhu cầu tối thiểu về ăn uống hoặc tỷ trọng chi cho ăn uống trên cơ cấu tiêu dùng.để xây dựng chuẩn nghèo và lấy đó làm cơ sở xác định tỷ lệ nghèo đói của quốc gia. Tỷ lệ nghèo: "Tỷ lệ nghèo là số phần trăm số người hoặc số hộ có mức sống thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số hộ được nghiên cứu” [32, 33].
Trong đó mức sống được đo bằng các thước đo sau: Thước đo đơn chiều: "Thước đo này đo khía cạnh về kinh tế của mức sống" và được tính theo thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình từ các cuộc điều tra thu nhập, chi tiêu hoặc điều tra mức sống hộ gia đình. 11 Các nước lựa chọn thu nhập làm thước đo đơn chiều mức sống cho rằng: thu nhập phản ánh thực chất mức sống của các hộ gia đình hơn là chi tiêu. Vì thông tin về thu nhập chỉ sai lệch ở một số hộ khi họ chủ định giấu diếm thu nhập hoặc do có nhiều nguồn thu khác nhau mà họ không thể nhớ hết được. Còn ở một số hộ khi gặp phải ốm đau, tai nạn, rủi ro,.
sẽ bị tăng đột biến làm cho mức độ chi tiêu cho cuộc sống trở nên eo hẹp trong khi theo thu nhập thì họ thuộc diện không nghèo hoặc theo thước đo chi tiêu thường xảy ra những trường hợp người nghèo kê khai vống chi tiêu của họ vì sự mặc cảm, sỹ diện. Các nước chọn chi tiêu làm thước đo đơn chiều mức sống lại cho rằng độ chính xác của số liệu chi tiêu điều tra thường cao hơn so với số liệu điều tra về thu nhập, mức chi tiêu phản ánh thực chất mức sống của các hộ hơn là thu nhập. Trong khi thu nhập thường có tính ổn định không cao trong một thời kỳ nhất định. Trên thực tế là có thể kiểm soát được chất lượng số liệu thu nhập hơn số liệu chi tiêu của các hộ nghèo.
Nhưng tùy điều kiện nhất định mà mỗi quốc gia sẽ lựa chọn thu nhập hoặc chi tiêu làm thước đo để xác định tỷ lệ đói nghèo của quốc gia mình. Ví dụ: Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sử dụng thước đo thu nhập khi tính tỷ lệ nghèo cho Việt Nam trong khi WB lại sử dụng thước đo chi tiêu. Thước đo đa chiều: Thước đo đa chiều được xem xét mức sống của dân cư đầy đủ hơn, toàn diện hơn. Nó đo lường mức sống cả về kinh tế lẫn chất lượng cuộc sống theo các chiều cạnh khác nhau như: tình trạng phi tiền tệ, tình trạng dễ bị tổn thương, rủi ro, quyền tự do, bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị phân biệt đối xử, bị vi phạm quyền con người, v.Việc đo lường mức sống theo đa chiều là việc xác định các chỉ tiêu để đo các chiều và việc gộp các chiều thành độ đo hay để riêng từng chiều và sử dụng trọng số các chiều.
"Tuy nhiên, do khó khăn về số liệu nên trong thực tế thước đo đa chiều chỉ đo lường sự phát 12 triển con người về 3 chiều: tuổi thọ bình quân, trình độ học vấn và chất lượng cuộc sống (đo bằng GDP thực tế bình quân theo đầu người tính theo PPP)" [32, 35].