Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn là một trong những trụ cột then chốt nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và bảo đảm an sinh xã hội. Tính đến thời điểm nghiên cứu, huyện Thanh Thủy thuộc tỉnh Phú Thọ có quy mô dân số trung bình đạt 76.920 người, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm 54% với 41.500 người. Đáng chú ý, lực lượng lao động tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn với 33.417 người, chiếm tỷ trọng áp đảo 80,7%, trong khi khu vực thành thị chỉ chiếm 19,3% tương đương 8.029 người. Mặc dù huyện đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 9,1%/năm giai đoạn 2010 - 2015 và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống mức 4,3% vào năm 2016, song thực trạng việc làm nông thôn vẫn đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng.

Quỹ đất canh tác nông nghiệp của địa phương rất hạn hẹp, bình quân chỉ đạt 0,06 ha/khẩu, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 0,25 ha/khẩu của cả nước. Bên cạnh đó, nền kinh tế nông nghiệp vẫn mang tính mùa vụ sâu sắc, sản xuất nhỏ lẻ, trình độ tay nghề của người lao động còn thấp và tâm lý tìm kiếm việc làm còn nặng tính thụ động.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng công tác tạo việc làm cho lao động nông thôn huyện Thanh Thủy giai đoạn 2012 - 2016, làm rõ các nhân tố tác động, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm chuyển dịch cơ cấu lao động và nâng cao thu nhập cho người dân đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đóng góp vào mục tiêu nâng cao giá trị canh tác vượt mốc 96,6 triệu đồng/ha và giải quyết triệt để tình trạng thiếu việc làm cục bộ tại 14 xã và 1 thị trấn trên toàn địa bàn huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thị trường lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tiêu biểu là mô hình hai khu vực giải thích sự dịch chuyển nguồn nhân lực dư thừa từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời, đề tài vận dụng quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế và quy định tại Điều 3 Luật Việc làm năm 2013: việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập hợp pháp mà không bị pháp luật ngăn cấm.

Khung lý thuyết của luận văn bao hàm các khái niệm cốt lõi:

  • Lực lượng lao động nông thôn: Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động sinh sống tại nông thôn có khả năng lao động, đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm.
  • Tạo việc làm: Quá trình tổng hòa các chính sách và điều kiện kinh tế - xã hội nhằm kết hợp hiệu quả giữa sức lao động với tư liệu sản xuất.
  • Thiếu việc làm và thất nghiệp: Nhận diện cả thiếu việc làm hữu hình khi người lao động làm việc dưới số giờ tiêu chuẩn và thiếu việc làm vô hình khi hiệu suất và thu nhập đạt mức thấp.

Nội dung tạo việc làm được cụ thể hóa qua 5 trụ cột: phát triển kinh tế địa phương; xuất khẩu lao động; đào tạo nghề theo Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13; hoàn thiện thị trường lao động; thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ, niên giám thống kê giai đoạn 2012 - 2016 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thanh Thủy, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ cùng các văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra thông qua chọn mẫu phân tầng có chủ đích với tổng quy mô mẫu là 260 đối tượng, bao gồm:

  • 240 người lao động nông thôn: Khảo sát trực tiếp tại 4 xã, thị trấn đại diện (xã Hoàng Xá, xã La Phù, xã Phượng Mao, xã Yến Mao) và 3 doanh nghiệp trọng điểm gồm Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sông Đà, Công ty Cổ phần May Sông Hồng, Công ty Nhôm Việt Nhật. Mẫu điều tra bảo đảm tính đại diện với tỷ lệ 140 lao động nam và 100 lao động nữ.
  • 20 cán bộ quản lý: Phỏng vấn sâu lãnh đạo, chuyên viên quản lý lao động cấp tỉnh, huyện, cán bộ phụ trách lao động tại xã và cán bộ nhân sự tại các doanh nghiệp.

Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu kết hợp giữa thống kê mô tả và thống kê so sánh thông qua phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác sự biến động của các chỉ tiêu việc làm qua các năm, so sánh tỷ trọng cơ cấu giữa các ngành kinh tế và đánh giá khách quan mức độ tác động của các chính sách tạo việc làm. Toàn bộ quá trình thu thập thông tin và khảo sát thực địa được triển khai từ tháng 5 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Cơ cấu kinh tế huyện Thanh Thủy giai đoạn 2012 - 2016 có sự chuyển dịch tích cực theo hướng kinh tế thị trường: tính đến năm 2016, tỷ trọng ngành dịch vụ đạt 44,4%, nông - lâm - thủy sản chiếm 38,5%, công nghiệp - xây dựng chiếm 17,1%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 9,1%/năm, sản lượng lương thực có hạt đạt 32.842 tấn, đưa mức lương thực bình quân đạt 413,4 kg/người/năm.

Công tác tạo việc làm tại chỗ thông qua kinh tế trang trại và doanh nghiệp đạt kết quả rõ nét. Toàn huyện phát triển được 168 trang trại quy mô vừa và nhỏ, thu hút khoảng 1.100 lao động thường xuyên với định mức bình quân 10 - 15 lao động/trang trại. Hơn 100 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn đã tiếp nhận lượng lớn lao động địa phương vào các ngành dệt may, vật liệu xây dựng và chế biến.

Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch trở thành động lực mới. Huyện đã quy hoạch và đưa vào hoạt động Cụm công nghiệp - làng nghề Hoàng Xá với diện tích 30 ha, công nhận 9 làng nghề truyền thống giúp giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động lúc nông nhàn. Đồng thời, 12 dự án du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng nước khoáng nóng tại thị trấn Thanh Thủy và xã Bảo Yên đang từng bước tạo ra nhiều việc làm dịch vụ chất lượng cao.

Mặc dù có nhiều bước tiến, chất lượng lao động nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông tự học nghề truyền khẩu. Đa phần người dân còn mang nặng tâm lý ỷ lại, e ngại làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân và chưa thích nghi tốt với kỷ luật tác phong công nghiệp.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu cho thấy sự chuyển biến việc làm phản ánh rõ nét đặc thù của một huyện miền núi mới chia tách từ năm 1999 với xuất phát điểm hạ tầng thấp. Dữ liệu thực trạng có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu giá trị kinh tế (Dịch vụ 44,4%, Nông nghiệp 38,5%, Công nghiệp 17,1%) kết hợp cùng bảng thống kê phân bổ 1.100 lao động tại 168 trang trại và quy mô lao động của 9 làng nghề truyền thống.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, mô hình liên kết tam giác giữa Nhà nước - Doanh nghiệp - Hộ nông dân tại Thái Lan và chính sách phát triển công nghiệp chế biến nông sản tại Malaysia cung cấp những bài học thực chứng giá trị cho Thanh Thủy trong việc giao khoán gia công và bao tiêu đầu ra. So sánh với các địa phương lân cận trong tỉnh Phú Thọ như huyện Phù Ninh (nơi lực lượng lao động chiếm 77,9% dân số) hay huyện Thanh Ba (nơi lao động nông nghiệp chiếm 83,12% năm 2016), việc phát huy lợi thế nguồn khoáng nóng và phát triển làng nghề tại Thanh Thủy là hướng đi hoàn toàn phù hợp để hạn chế tính thời vụ của nông nghiệp thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thanh Thủy chủ trì phối hợp với các trung tâm dạy nghề tổ chức đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đặt mục tiêu đào tạo cho trên 1.500 lao động/năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện đạt trên 50% vào năm 2020.
  2. Khôi phục và mở rộng 9 làng nghề truyền thống cùng Cụm công nghiệp Hoàng Xá: Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy cùng Phòng Kinh tế và Hạ tầng tập trung hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp 30 ha, hỗ trợ vốn và công nghệ để tạo thêm 800 - 1.000 việc làm tiểu thủ công nghiệp tại chỗ giai đoạn 2018 - 2020.
  3. Mở rộng quy mô 168 trang trại và đẩy nhanh tiến độ 12 dự án du lịch: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã hỗ trợ các trang trại phát triển chuỗi liên kết an toàn sinh học, đồng thời đôn đốc các chủ đầu tư hoàn thiện hạ tầng du lịch khoáng nóng, phấn đấu tạo việc làm mới cho hơn 2.000 lao động dịch vụ đến năm 2020.
  4. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động có thời hạn: Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Phú Thọ và Ủy ban nhân dân các xã tăng cường thông tin tuyên truyền, hỗ trợ thủ tục vay vốn ưu đãi, đặt mục tiêu đưa 200 - 300 lao động/năm đi làm việc tại các thị trường có thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
  5. Tối ưu hóa nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Thanh Thủy thẩm định chặt chẽ, giải ngân kịp thời nguồn vốn vay ưu đãi, ưu tiên hỗ trợ từ 300 - 500 hộ gia đình, hợp tác xã mở rộng sản xuất kinh doanh mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện Thanh Thủy sử dụng kết quả để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đào tạo nghề và điều tiết thị trường lao động địa phương.
  • Học viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu: Chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn sử dụng làm tài liệu tham khảo khoa học với bộ khung phân tích 5 trụ cột tạo việc làm và dữ liệu điều tra thực chứng tại cấp huyện.
  • Chủ doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại: Các đơn vị sản xuất kinh doanh tại địa phương tham khảo để xây dựng mô hình liên kết gia công, tổ chức đào tạo nghề nội bộ và tối ưu hóa chi phí tuyển dụng nhân sự nông thôn.
  • Người lao động và các tổ chức đoàn thể xã hội: Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên các cấp dùng làm cơ sở định hướng nghề nghiệp cho hội viên, giúp người lao động nắm bắt cơ hội học nghề, tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi và chuyển đổi sinh kế bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Áp lực về diện tích đất canh tác ảnh hưởng như thế nào đến việc làm tại huyện Thanh Thủy?

Bình quân đất nông nghiệp của huyện chỉ đạt 0,06 ha/khẩu, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 0,25 ha/khẩu của cả nước. Tình trạng này khiến sản xuất nông nghiệp thuần túy không thể tạo đủ việc làm quanh năm, buộc địa phương phải đẩy mạnh chuyển dịch sang kinh tế trang trại, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ du lịch.

Mô hình kinh tế trang trại đóng góp cụ thể ra sao vào việc giải quyết việc làm?

Toàn huyện Thanh Thủy đã phát triển được 168 trang trại hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Các trang trại này đã trực tiếp thu hút khoảng 1.100 lao động nông thôn với quy mô sử dụng ổn định từ 10 đến 15 lao động trên mỗi trang trại.

Cơ cấu kinh tế huyện Thanh Thủy chuyển biến thế nào trong giai đoạn nghiên cứu?

Giai đoạn 2012 - 2016 ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ sang khu vực phi nông nghiệp. Đến năm 2016, ngành dịch vụ vươn lên chiếm tỷ trọng cao nhất với 44,4%, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 38,5%, và ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 17,1%, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng 9,1%/năm.

Mẫu khảo sát người lao động trong đề tài được phân bổ như thế nào?

Nghiên cứu tiến hành khảo sát 240 người lao động nông thôn tại 4 xã, thị trấn và 3 doanh nghiệp lớn trên địa bàn. Để bảo đảm tính đại diện khách quan về giới và ngành nghề, mẫu điều tra được phân bổ cụ thể gồm 140 lao động nam và 100 lao động nữ.

Đâu là giải pháp trọng tâm để tạo việc làm phi nông nghiệp tại chỗ cho người dân?

Giải pháp đột phá là tập trung hoàn thiện hạ tầng Cụm công nghiệp - làng nghề Hoàng Xá quy mô 30 ha, khôi phục phát triển 9 làng nghề truyền thống và đẩy nhanh tiến độ 12 dự án du lịch nghỉ dưỡng nước khoáng nóng nhằm giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động thời kỳ nông nhàn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về 5 trụ cột tạo việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng tại huyện Thanh Thủy với 33.417 lao động nông thôn (chiếm 80,7% lực lượng lao động) trong bối cảnh đất canh tác chỉ đạt 0,06 ha/khẩu.
  • Làm rõ đóng góp thực tiễn của 168 trang trại (thu hút 1.100 lao động), 9 làng nghề, Cụm công nghiệp Hoàng Xá 30 ha và 12 dự án du lịch trong chuyển dịch việc làm.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ từ đào tạo nghề, mở rộng làng nghề, phát triển du lịch, đẩy mạnh xuất khẩu lao động đến quản lý Quỹ việc làm.
  • Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho công tác quản trị kinh tế địa phương và nghiên cứu học thuật về phát triển nguồn nhân lực nông thôn.

Kế hoạch hành động giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào việc số hóa thông tin thị trường lao động, triển khai các lớp dạy nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và hoàn thiện hạ tầng các khu du lịch nghỉ dưỡng. Các cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Thanh Thủy và các sở, ngành liên quan cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất thành các chương trình mục tiêu cụ thể, tạo tiền đề vững chắc nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn.