Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững của địa phương cấp huyện. Chương 2: Thực trạng chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị về chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CỦA ĐỊA PHƢƠNG CẤP HUYỆN 1.
Luận về chính sách giảm nghèo bền vững của địa phƣơng cấp huyện 1. Khái niệm hộ nghèo ở nông thôn và tiêu chí xác định hộ nghèo 1. Khái niệm hộ nghèo ở nông thôn Hộ nghèo là khái niệm thể hiện sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo có thước đo và các thước đo này thay đổi tùy theo địa phương và thời gian.
Sau đây là một số khái niệm có liênquan. - Hộ nghèo là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của hộ gia đình chỉ dành hầu như toàn bộ cho ăn, thậm chí không đủ chi cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu gồm: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp chỉ đáp ứng một phần rất ít ỏi không đáng kể. - Hộ nghèo là tình trạng hộ gia đình chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
- Theo luật Việt Nam cho rằng, hộ nghèo là hộ thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Hộ nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Hộ nghèo cũng có nghĩa sự không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn.
Như vậy, có thể kết luận rằng, hộ nghèo là tình trạng hộ gia đình không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xãhội và phong tục tập quán của địa phương. Từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Tiêu chí xác định hộ nghèo Hộ nghèo là một khái niệm biến động theo không gian và thời gian. Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng hay từng quốc gia.
Về thời gian, hộ nghèo biến động theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn khác nhau. Khi kinh tế - xã hội phát triển, tất yếu đời sống con người ngày một cải thiện tốt hơn, nhu cầu tối thiểu dĩ nhiên cũng sẽ tăng lên. Ở nước ta, thu nhập là thước đo và cách thức để đánh giá hộ nghèo. Qua mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền để xác định hộ nghèo.
Những người có thu nhập dưới chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010. Khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng / người / tháng (2.000 đồng / người / năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.000 đồng / người / năm) trở xuống là hộ nghèo.
Thủ Tướng Chính Phủ (2011), Quyết định số 09 / 2011 / QĐ - TTg ngày 30/01/2011, về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015. Theo Quyết định này, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng / người / tháng (từ 4,8 triệu đồng / người / năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng / người / tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống. Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng / người / tháng.
Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020. Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của 11 Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập; (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ), bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Cụ thể: Hộ nghèo ở khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người / tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ nghèo ở khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: có thu nhập bình quân đầu người / tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống hoặc có thu nhập bình quân đầu người / tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo ở khu vực nông thôn là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Hộ cận nghèo ở khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Sau đây là bảng tổng hợp chuẩn nghèo theo từng giai đoạn. Tiêu chí xác định hộ nghèo qua các giai đoạn Hộ nghèo (đồng/ngƣời/tháng) Giai đoạn Văn bản Nông thôn Thành thị Quyết định 09/2011/QĐ- 2011-2015 TTg ngày Dưới 400.000 đến Quyết định 1.000 và thiếu hụt 1.000 và thiếu hụt 59/2015/QĐ- từ 03 chỉ số đo lường từ 03 chỉ số đo lường 2016 – 2020 TTg ngày mức độ thiếu hụt tiếp mức độ thiếu hụt tiếp 19/11/2015 cận các dịch vụ xã hội cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. cơ bản trở lên.
Nguồn: Tổng hợp của tác giả 1. Khái niệm giảm nghèo, giảm nghèo bền vững 1. Khái niện giảm nghèo Khái niệm giảm nghèo: Giảm nghèo là làm cho người nghèo nâng cao mức sống và thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống.
Đây là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Trên góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Trên góc độ vùng nghèo: “Giảm nghèo là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất mới 13 cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư” [8].
Giảm nghèo là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Khái niệm giảm nghèo bền vững Khái niệm này được một số nghiên cứu đề cập từ những năm 2000. Tuy nhiên, đến năm 2008 cụm từ này mới được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính tại Nghị quyết số 30A/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; tiếp theo là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ- TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012- 2015, Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề CSXH giai đoạn 2012-2020 và Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hay một định nghĩa chính thức về giảm nghèo bền vững.
Trong các báo cáo về giảm nghèo, tình trạng tái nghèo luôn được xem là vấn đề cơ bản đối với hoạt động giảm nghèo bền vững. Theo tác giả, giảm nghèo bền vững là thực hiện và duy trì các biện pháp giảm nghèo, trong đó tập trung vào các hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế, nước sạch; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình cải cách kinh tế, bảo đảm thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo.