Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN ĐA CHIỀU 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều 1. Lý luận chung về nghèo đa chiều và chuẩn nghèo đa chiều tại Việt Nam 1. Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều - Khái niệm nghèo Khái niệm về nghèo ở Việt Nam tương đồng với những khái niệm về đói nghèo được thừa nhận rộng rãi trên thế giới.
Hiện nay, Việt Nam đãthừa nhận khái niệm chung về nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP: United Nations Economic and Social Commision for Asia and Pacific) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. - Khái niệm nghèo đa chiều Từ năm 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo lường mới về nghèo đói, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo đói. Cách thức đo lường này đã được Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) sử dụng để tính toán chỉ số Nghèo đa chiều (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá đói nghèo. Hiện nay, có trên 30 nước trên thế giới đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo đa chiều trong đo lường và giám sát nghèo, xác định đối tượng nghèo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội.
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Nghèo đa chiều được hiểu là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống [1]. Chuẩn nghèo đa chiều tại Việt Nam Từ năm 2015 trở về trước, Việt Nam chủ yếu xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm.
Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn cụ thể.1: Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ đói Hộ nghèo 1. Giai đoạn 1993-1994 ≤ mức ≤ mức - Vùng nông thôn kg gạo/người/tháng 8 15 - Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995-1997 - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kg gạo/người/tháng 13 15 - Vùng nông thôn đồng bằng, trung du kg gạo/người/tháng 13 20 - Vùng thành thị kg gạo/người/tháng 13 25 3. Giai đoạn 1998-2000 - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 45.000 - Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 45.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 45.
Giai đoạn 2001-2005 - Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000 - Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 100.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 150. Giai đoạn 2006-2010 - Vùng nông thôn đồng/người/tháng 200.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 260. Giai đoạn 2011-2015 - Vùng nông thôn đồng/người/tháng 400.000 - Vùng thành thị đồng/người/tháng 500.000 (Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Từ năm 1993 đến năm 2015, Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mức chuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn 1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 nước ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính quy đổi bằng gạo (kg/người/tháng). Từ năm 2000 trở đi ở nước ta về cơ bản đã xoá được tình trạng đói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006 - 2010 vẫn được tính theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính bằng giá trị (đồng/người/tháng).
Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 đã ban hành tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015. Theo đó, mức chuẩn hộ nghèo trong giai đoạn 2011-2015 là hộ có mức thu nhập bình quân đến 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và đến 500.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và từ 501.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Gần đây nhất theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.
Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (gồm 5 dịch vụ là y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin). Chuẩn nghèo cụ thể như sau: Bảng 1. Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 Hộ nghèo Tiêu chí đánh giá Khu vực nông thôn Khu vực thành thị - Thu nhập ≤ 700.000 - Chỉ số đo lường mức Thiếu hụt từ 3 Thiếu hụt từ 3 độ thiếu hụt tiếp cận chỉ số trở lên chỉ số trở lên dịch vụ xã hội cơ bản (Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Như vậy, giảm nghèo theo cách tiếp cận truyền thống chỉ dựa vào thu nhập, trong khi giảm nghèo theo cách tiếp cận đa chiều ngoài dựa vào thu nhập còn dựa trên mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản gồm 5 dịch vụ là y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Việt Nam - Nguyên nhân có tính lịch sử Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, bị tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực của Nhà nước chưa đáp ứng ngay được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương cũng như việc đảm bảo đầy đủ các nguồn lực để hỗ trợ người nghèo.
Điều này dẫn đến một số vùng, tỉnh, huyện, xã nghèo không tự tạo ra được những điều kiện cũng như phát huy tiềm năng của mình để phát triển, do đó làm cho người dân ở địa bàn cũng phải gánh chịu những khó khăn đó và không thể tự thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói. - Nguyên nhân từ thực tiễn + Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, từ đó gây ra tình trạng đói nghèo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 + Nhóm các nguyên nhân do chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, ốm đau và gặp phải các rủi ro trong cuộc sống. + Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ các chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn và nguồn lực đầu tư còn hạn chế.
+ Số lượng dân cư sống ở các vùng nông thôn cao 67,0% (năm 2015), trong khi đó tổng sản phẩm quốc dân ở khu vực nông thôn rất thấp. Bên cạnh đó, còn có sự chênh lệch lớn về điều kiện kinh tế xã hội giữa các vùng miền, giữa thành thị và nông thôn, giữa các dân tộc. + Môi trường bị phá hoại ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, trong khi đa số người nghèo lại sống nhờ vào nông nghiệp. Tình trạng lạm dụng sử dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp còn khá phổ biến, còn sử dụng các kỹ thuật canh tác không phù hợp với việc bảo vệ môi trường, thảm thực vật bị phá hoại, tỉ lệ che phủ rừng bị giảm do tình trạng phá rừng.
Những việc làm đó tác động đến chất lượng của môi trường đất, nước và tài nguyên sinh vật. Lý luận chung về giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững là một khái niệm mới và trong thời gian gần đây được đưa vào sử dụng trên các diễn đàn, trên các hội nghị, hội thảo và các chính sách vĩ mô về công tác xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên, thuật ngữ “giảm nghèo bền vững” đến nay vẫn chưa được kết luận dưới góc độ là một khoa học từ khái niệm, nội dung và các yếu tố cấu thành.
Do vậy, để tìm hiểu khái niệm về giảm nghèo bền vững chúng ta có thể tìm hiểu một số quan điểm về giảm nghèo bền vững như sau: - Trong Báo cáo phát triển Việt Nam tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam được tổ chức năm 2004 tại Hà Nội, tác giả Phạm Ngọc Kiểm cho LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 rằng “Trên giác độ tổng cung xoá đói giảm nghèo sẽ bơm thêm vào luồng cung hàng hoá và dịch vụ cho xã hội. Điều này được thể hiện là hầu hết các hộ đói nghèo do thiếu điều kiện để sản xuất. Người ta cần “cái cần câu cá hơn là xâu cá”.