Tổng quan nghiên cứu

Công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam đã ghi nhận nhiều dấu ấn nổi bật trên trường quốc tế khi tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm mạnh từ 59% năm 1993 xuống còn khoảng 6,0% vào năm 2015. Mặc dù vậy, tính bền vững của các kết quả này vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn, đặc biệt là nguy cơ tái nghèo cao tại khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nậm Nhùn là một huyện miền núi biên giới đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu, được thành lập theo Nghị quyết 71/NQ-CP ngày 02/11/2012 của Chính phủ. Với diện tích tự nhiên rộng 138.808,4 ha, dân số năm 2015 đạt 27.300 người và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 95%, huyện Nậm Nhùn phải đối mặt với nhiều rào cản địa lý, hạ tầng thấp kém và trình độ dân trí chưa đồng đều.

Trong giai đoạn 2013 - 2015, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của hệ thống chính trị địa phương, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn thu nhập truyền thống đã giảm nhanh từ 42,8% xuống 26,6%, đạt mức giảm bình quân 5,4%/năm. Tuy nhiên, khi áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, kết quả điều tra tháng 12 năm 2015 cho thấy tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện lên tới 45,86% và tỷ lệ hộ cận nghèo chiếm 7,85%. Sự chênh lệch sâu sắc này phản ánh thực tế rằng việc cải thiện thu nhập đơn thuần chưa đủ để bảo đảm an sinh xã hội nếu người dân vẫn thiếu hụt trầm trọng các dịch vụ cơ bản.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng giảm nghèo đa chiều giai đoạn 2013 - 2015, chỉ rõ các nguyên nhân thiếu hụt và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Nậm Nhùn đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để địa phương phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều từ 4% đến 5% mỗi năm, nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người từ 13,5 triệu đồng năm 2015 lên trên 20 triệu đồng vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận đo lường nghèo đa chiều do hai nhà kinh tế học Sabina Alkire và James Foster đề xuất năm 2007 (phương pháp Alkire - Foster), sau đó được Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) áp dụng chính thức từ Báo cáo Phát triển Con người năm 2010. Phương pháp này chuyển dịch căn bản tư duy quản lý kinh tế từ việc chỉ đo lường sự thiếu hụt thu nhập sang đánh giá tổng hợp mức độ thiếu thốn về phúc lợi cuộc sống.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết an sinh xã hội và mô hình giảm nghèo dựa trên nội lực, nhấn mạnh quan điểm trao cho người nghèo phương thức sản xuất mới để tự chủ vươn lên thay vì chỉ trợ cấp tiêu dùng thụ động. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Nghèo đa chiều: Tình trạng con người bị tước đoạt hoặc không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
  • Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020: Hệ thống tiêu chí kết hợp giữa mức thu nhập (dưới 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn) và mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản gồm Y tế, Giáo dục, Nhà ở, Nước sạch - Vệ sinh và Thông tin.
  • Tính bền vững trong giảm nghèo: Khả năng duy trì mức sống trên chuẩn nghèo của các hộ dân trước những cú sốc kinh tế, thiên tai và dịch bệnh mà không bị tái nghèo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2013 - 2015 thu thập từ Niên giám thống kê huyện Nậm Nhùn, các báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, Chương trình 135 và Đề án phát triển kinh tế 3 dân tộc Cống, Mảng, La Hủ. Nguồn dữ liệu sơ cấp được khai thác từ cuộc tổng điều tra hộ nghèo theo chuẩn đa chiều do Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Nậm Nhùn chủ trì thực hiện vào tháng 12 năm 2015.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn bộ 5.800 hộ dân cư trên địa bàn 11 đơn vị hành chính cấp xã của huyện Nậm Nhùn. Phương pháp chọn mẫu áp dụng hình thức rà soát toàn bộ địa bàn thông qua bảng hỏi chuẩn hóa, kết hợp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ và thẩm định công khai tại từng thôn, bản.

Các phương pháp phân tích chủ yếu gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương tương đồng như huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) và huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh trung thực mức độ thiếu hụt từng chiều chỉ số, bóc tách chính xác các yếu tố tác động và cung cấp cơ sở tin cậy cho công tác hoạch định chính sách kinh tế công tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh thực trạng giảm nghèo tại huyện Nậm Nhùn với 4 phát hiện cốt lõi:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách rất lớn giữa kết quả giảm nghèo đơn chiều và mức độ nghèo đa chiều thực tế. Trong giai đoạn 2013 - 2015, tỷ lệ hộ nghèo theo thu nhập đã giảm mạnh 16,2 điểm phần trăm, từ 42,8% xuống 26,6%. Tuy nhiên, khi đo lường theo chuẩn nghèo đa chiều vào cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của huyện vọt lên 45,86% (tương đương gần 2.660 hộ), trong khi tỷ lệ hộ cận nghèo chiếm 7,85%. Điều này chứng minh rằng việc vượt qua ngưỡng thu nhập tối thiểu chưa bảo đảm giúp người dân thoát nghèo toàn diện.

Thứ hai, mức độ nghèo đói phân hóa sâu sắc theo địa bàn hành chính và nhóm dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo tập trung cao bất thường ở các xã vùng sâu, vùng xa như xã Nậm Pì chiếm 58,5%, xã Nậm Chà chiếm 49,1%, xã Trung Chải chiếm 46,6% và xã Hua Bum chiếm 46,3%. Về mặt nhân khẩu học, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 95% dân số toàn huyện, trong đó các dân tộc thiểu số ít người như dân tộc Mảng (chiếm 11,5% dân số), dân tộc Mông (chiếm 32,4% dân số) có tỷ lệ nghèo cao vượt trội do tập quán canh tác lạc hậu và rào cản ngôn ngữ.

Thứ ba, sự thiếu hụt tập trung nghiêm trọng vào hạ tầng cơ sở và các dịch vụ xã hội thiết yếu. Tính đến năm 2015, toàn huyện vẫn còn 57,3% số hộ dân chưa được tiếp cận điện lưới quốc gia, trong đó có 3 trên tổng số 11 xã hoàn toàn trắng lưới điện quốc gia gồm Nậm Chà, Trung Chải và Nậm Ban. Ngoài ra, 47% thôn bản chưa có đường xe máy đi lại thuận tiện vào mùa mưa, trong khi tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 68,3% lực lượng lao động toàn huyện.

Thứ tư, hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư công còn nhiều điểm nghẽn. Giai đoạn 2013 - 2015, tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước qua Nghị quyết 30a đạt 59.431 triệu đồng, trong đó vốn bố trí cho 3 công trình thủy lợi chiếm 52.308 triệu đồng và 1 công trình giao thông chiếm 6.200 triệu đồng. Tuy nhiên, việc giải ngân vốn sự nghiệp hỗ trợ trực tiếp sản xuất còn dàn trải, chưa tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung đủ lớn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng nghèo đa chiều tại Nậm Nhùn xuất phát từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt khi có tới 72,1% diện tích tự nhiên là địa hình núi cao hiểm trở trên 700m, thường xuyên bị chia cắt bởi lũ quét và sạt lở đất. Cơ cấu kinh tế huyện còn lạc hậu với ngành nông - lâm - thủy sản chiếm tới 42% GRDP năm 2015, trong khi năng suất lao động xã hội chỉ đạt 15,5 triệu đồng/lao động/năm, tương đương 75% mức bình quân của tỉnh Lai Châu (18,2 triệu đồng/lao động/năm). Thu ngân sách địa phương phụ thuộc tới 94% vào thuế giá trị gia tăng từ công trình xây dựng Thủy điện Lai Châu, thiếu tính ổn định lâu dài.

So sánh với bài học kinh nghiệm từ huyện Lâm Bình (tỉnh Tuyên Quang) giảm nghèo bình quân 6,7%/năm hay huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 26% xuống 7,07%, huyện Nậm Nhùn gặp nhiều trở ngại hơn do mới được thành lập và chịu tác động xáo trộn từ công tác di dân tái định cư lòng hồ thủy điện.

Trong thực tế trình bày báo cáo, các dữ liệu phân tích nói trên có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ nghèo thu nhập đối chiếu với nghèo đa chiều của 11 xã, thị trấn, kết hợp bảng ma trận phân bố tỷ trọng thiếu hụt theo 5 dịch vụ xã hội cơ bản nhằm hỗ trợ các cấp lãnh đạo dễ dàng nhận diện trọng điểm can thiệp chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao nhằm thúc đẩy giảm nghèo bền vững tại Nậm Nhùn giai đoạn 2016 - 2020:

Thứ nhất, cơ cấu lại sản xuất nông lâm nghiệp và chuyển giao kỹ thuật sinh kế thích ứng. Ủy ban nhân dân huyện Nậm Nhùn cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần chủ trì quy hoạch phát triển vùng trồng cây cao su và cây mắc ca tại các xã vùng thấp dưới 700m như Nậm Hàng, Mường Mô với diện tích trên 1.500 ha; đồng thời mở rộng diện tích trồng cây sơn tra, thảo quả và dược liệu tại các xã vùng cao như Pú Đao, Hua Bum. Mục tiêu đến năm 2020 nâng giá trị sản xuất nông nghiệp lên trên 30 triệu đồng/ha/năm, đưa thu nhập bình quân đầu người vượt mốc 20 triệu đồng/năm.

Thứ hai, tập trung nguồn lực xây dựng hạ tầng đồng bộ giải quyết 5 chiều thiếu hụt cơ bản. Ban Quản lý dự án xây dựng huyện phối hợp với Công ty Điện lực Lai Châu ưu tiên hoàn thành cấp điện lưới quốc gia cho 3 xã Nậm Chà, Trung Chải, Nậm Ban, nâng tỷ lệ hộ sử dụng điện từ 42,7% lên trên 70% vào năm 2018 và đạt 85% vào năm 2020. Đồng thời, kiên cố hóa 100% phòng học tạm, xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho trên 80% hộ dân nông thôn.

Thứ ba, đổi mới cơ chế tín dụng chính sách gắn với đào tạo nghề có địa chỉ. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Nậm Nhùn phối hợp với các tổ chức hội đoàn thể chuyển dịch phương thức hỗ trợ từ cho không sang cho vay vốn ưu đãi có điều kiện và có thu hồi. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện đặt mục tiêu đào tạo nghề ngắn hạn cho khoảng 1.500 lao động nông thôn mỗi năm, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 34,4% lên 50% vào năm 2020, ưu tiên hướng nghiệp cho thanh niên dân tộc Mảng, Mông.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và xóa bỏ tư tưởng ỷ lại của người dân. Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện cần mở 20 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho đội ngũ cán bộ công chức cấp xã, nâng tỷ lệ cán bộ xã có trình độ đại học từ 37,6% lên trên 55% vào năm 2020. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng tiếng dân tộc trên hệ thống truyền thanh để khơi dậy ý chí tự lực vươn lên thoát nghèo của từng hộ gia đình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao, là tài liệu tham khảo hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Nậm Nhùn và các huyện nghèo 30a sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch giảm nghèo trung hạn và phân bổ nguồn lực công.
  • Các tổ chức chính trị - xã hội và ngân hàng chính sách: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và Ngân hàng Chính sách Xã hội tham khảo để thiết kế các chương trình ủy thác vay vốn, xây dựng mô hình sinh kế gắn kết cộng đồng hiệu quả.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển, Xã hội học sử dụng mô hình nghiên cứu và phương pháp phân tích nghèo đa chiều làm tài liệu giảng dạy và mở rộng đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các tổ chức phi chính phủ và đối tác phát triển quốc tế: Đại diện UNDP, Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức phát triển nông thôn ứng dụng dữ liệu thực địa để thiết kế các dự án viện trợ kỹ thuật, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ môi trường lưu vực sông Đà.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tại Nậm Nhùn năm 2015 (45,86%) lại cao gần gấp đôi tỷ lệ nghèo theo thu nhập (26,6%)? Chuẩn nghèo đa chiều đánh giá tổng hợp cả thu nhập và mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản. Tại Nậm Nhùn, phần lớn người dân gặp khó khăn nghiêm trọng về điện sinh hoạt (57,3% hộ chưa có điện), nhà tiêu hợp vệ sinh, thông tin và y tế. Do đó, dù có thu nhập nhích qua ngưỡng nghèo, các hộ vẫn bị xếp vào nhóm nghèo đa chiều.

Yếu tố tự nhiên nào gây cản trở lớn nhất đến công tác giảm nghèo tại huyện Nậm Nhùn? Địa hình chia cắt phức tạp với 72,1% diện tích là núi cao trên 700m cùng mạng lưới sông suối dốc là rào cản lớn nhất. Địa hình này làm tăng chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, hạn chế quỹ đất sản xuất lúa nước (chỉ đạt 0,03 ha/người) và thường xuyên gây ra thiên tai, lũ ống, lũ quét trong mùa mưa.

Huyện Nậm Nhùn đã tận dụng nguồn vốn theo Nghị quyết 30a giai đoạn 2013 - 2015 như thế nào? Huyện đã huy động 59.431 triệu đồng vốn đầu tư hạ tầng từ Nghị quyết 30a để triển khai 1 công trình giao thông trọng điểm trị giá 9.300 triệu đồng và 3 công trình thủy lợi với tổng mức đầu tư 63.000 triệu đồng (lũy kế bố trí vốn đạt 52.308 triệu đồng), giúp mở rộng diện tích tưới tiêu cho vùng sản xuất lúa nước.

Đóng góp mới nhất về mặt học thuật của công trình nghiên cứu này là gì? Luận văn là công trình đầu tiên tại địa phương tiên phong áp dụng khung đo lường nghèo đa chiều của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định 59/2015/QĐ-TTg) vào thực tiễn quản lý kinh tế cấp huyện, phân tích chi tiết mức độ thiếu hụt của 11 xã, thị trấn, tạo tiền đề đổi mới tư duy giảm nghèo.

Chính sách can thiệp nào cần được thay đổi căn bản để giúp người dân thoát nghèo bền vững? Chính quyền cần chấm dứt cơ chế hỗ trợ cấp phát trực tiếp cho không vốn tiêu dùng, chuyển mạnh sang hình thức hỗ trợ có điều kiện, cho vay vốn ưu đãi gắn liền với tập huấn khuyến nông, bao tiêu sản phẩm cây công nghiệp và ràng buộc trách nhiệm thoát nghèo của hộ vay.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh giảm nghèo huyện Nậm Nhùn giai đoạn 2013 - 2015, ghi nhận mức giảm tỷ lệ nghèo thu nhập bình quân 5,4%/năm nhưng chỉ ra tỷ lệ nghèo đa chiều còn ở mức rất cao là 45,86%.
  • Xác định nguyên nhân gốc rễ của nghèo đa chiều là sự thiếu hụt nghiêm trọng về hạ tầng điện lưới (57,3% hộ chưa có điện), tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao (68,3%) và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 95%.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của việc lồng ghép linh hoạt các nguồn lực từ Nghị quyết 30a, Chương trình 135 và Đề án hỗ trợ 3 dân tộc Cống, Mảng, La Hủ trong việc thúc đẩy an sinh xã hội.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 giải pháp trọng tâm về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư hạ tầng điện đường, đổi mới tín dụng chính sách và nâng cao năng lực cán bộ cơ sở.
  • Đóng góp bộ công cụ quản lý kinh tế thiết thực giúp chính quyền địa phương kiểm soát và phấn đấu đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4% đến 5% mỗi năm giai đoạn 2016 - 2020.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, Ủy ban nhân dân huyện Nậm Nhùn cần khẩn trương số hóa dữ liệu điều tra nghèo đa chiều, định kỳ rà soát hằng năm và tập trung vốn dứt điểm cho các xã có tỷ lệ nghèo trên 45%. Các nhà quản trị kinh tế và cơ quan hoạch định chính sách hãy áp dụng ngay khung giải pháp của nghiên cứu này để xây dựng những chương trình giảm nghèo thực chất, bền vững cho vùng cao biên giới Tây Bắc.