Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề việc làm cho lao động nữ khu vực nông thôn luôn là một bài toán kinh tế - xã hội then chốt trong tiến trình phát triển quốc gia. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vào quý I năm 2018, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trên cả nước ước đạt 54,0 triệu người, song vẫn tồn tại 1,1 triệu người thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm tại khu vực nông thôn ghi nhận ở mức 1,94%. Tại tỉnh Phú Yên, địa phương thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ với quy mô dân số 899,4 nghìn người, tỷ lệ nữ giới chiếm 49,98% (tương đương 449,6 nghìn người), đóng vai trò nòng cốt trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Tuy nhiên, tình trạng việc làm bấp bênh, thu nhập thấp và bất bình đẳng giới vẫn là rào cản lớn, dẫn đến làn sóng di cư tự do gia tăng.
Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề việc làm của lao động nữ tại xã Hòa Định Tây, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên. Đây là địa bàn bán sơn địa có diện tích tự nhiên 4.279 ha với dân số 9.653 người chia thành 3 thôn. Trong tổng số 5.598 người thuộc độ tuổi lao động, lực lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ 52,6% với 2.944 người. Có tới 75% số hộ dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, đối mặt với tình trạng thiếu đất sản xuất, năng suất lao động hạn chế và thời gian nông nhàn kéo dài.
Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: đánh giá toàn diện thực trạng việc làm, xác định các yếu tố cá nhân, gia đình, chính sách tác động đến việc làm và đề xuất mô hình giải quyết việc làm bền vững cho phụ nữ địa phương. Phạm vi thời gian nghiên cứu thu thập dữ liệu tập trung trong năm 2017. Ý nghĩa của công trình là cung cấp luận cứ thực nghiệm định lượng, hỗ trợ chính quyền địa phương nâng cao thu nhập, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp và thúc đẩy mục tiêu bình đẳng giới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hai nền tảng lý thuyết xã hội học và kinh tế học then chốt:
Thuyết Tân kinh tế cổ điển của Adam Smith xem thị trường là cơ chế cân bằng cung - cầu lao động và tiếp cận cá nhân dưới góc độ vốn nhân lực. Năng lực, trình độ học vấn, thâm niên và vốn đầu tư giáo dục sẽ quyết định trực tiếp đến năng suất cũng như tiền lương của người lao động. Lý thuyết này giải thích sự chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ bắt nguồn từ chi phí cơ hội, việc đầu tư vốn nhân lực cho nữ giới còn thấp và năng lượng bị phân tán do đảm nhiệm vai trò sinh sản, chăm sóc gia đình. Trong nghiên cứu, lý thuyết được vận dụng để xây dựng các mô hình việc làm linh hoạt, tận dụng thời gian nông nhàn của phụ nữ.
Thuyết Nữ quyền xã hội chủ nghĩa kết hợp phân tích giữa chế độ phụ quyền và cơ chế tư bản để chỉ ra nguồn gốc của sự bất bình đẳng. Lý thuyết làm rõ việc phụ nữ bị định kiến gắn mác lao động không có tay nghề nhằm hạ thấp giá trị thù lao trong các ngành nghề gia công hoặc dịch vụ. Thuyết này cung cấp góc nhìn toàn diện để đề xuất giải pháp xã hội hóa công việc gia đình, chia sẻ trách nhiệm chăm sóc và hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ lao động nữ.
Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa gồm:
- Việc làm: Hoạt động lao động tạo ra thu nhập hợp pháp theo Bộ luật Lao động 2012, đồng thời mang ý nghĩa vật chất, tâm lý và xã hội theo 10 thành tố của Xã hội nhân chủng học.
- Giải quyết việc làm: Quá trình kiến tạo môi trường, điều kiện bảo đảm cho người có khả năng lao động tiếp cận công việc có chất lượng ngày càng cao.
- Lao động nữ: Công dân giới tính nữ từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động.
- Phân công lao động theo giới: Sự sắp xếp các vai trò xã hội và công việc trong gia đình giữa nam giới và nữ giới.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp định lượng và định tính nhằm bảo đảm độ tin cậy khoa học cao:
Điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu từ mẫu khảo sát 150 lao động nữ được phân bổ ngẫu nhiên và đồng đều tại 3 thôn (Phú Sen Tây: 50 phiếu, Phú Sen Đông: 50 phiếu, Cẩm Thạch: 50 phiếu). Phiếu khảo sát gồm 36 câu hỏi, trong đó có 2 câu về nhân khẩu học, 12 câu về thực trạng việc làm và 22 câu đánh giá giải pháp tạo việc làm. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo địa bàn bảo đảm tính đại diện cao cho toàn bộ 2.944 lao động nữ trong xã.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 10 đối tượng, bao gồm 2 cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, 6 lao động nữ trong lĩnh vực nông nghiệp và 2 lao động nữ thuộc khu vực phi nông nghiệp.
Phương pháp thảo luận nhóm: Tổ chức 4 nhóm chuyên đề với quy mô từ 5 đến 6 người mỗi nhóm, chia theo các nhóm nghề: 2 nhóm nông nghiệp, 1 nhóm công chức - viên chức và 1 nhóm công nhân - tiểu thương.
Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có và quan sát thực địa: Khảo sát các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2012-2017 của UBND xã Hòa Định Tây, báo cáo của HĐND huyện Phú Hòa và hệ thống văn bản pháp luật như Nghị định 85/2015/NĐ-CP và Điều 26 Hiến pháp 2013.
Việc phối hợp đa phương pháp giúp lượng hóa chính xác các biến số kinh tế và nắm bắt sâu sắc tâm tư, nguyện vọng của người lao động trong mốc thời gian thực hiện nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực nghiệm trên 150 lao động nữ tại xã Hòa Định Tây đã chỉ ra 4 phát hiện căn bản:
Thứ nhất, cơ cấu việc làm mang tính thuần nông tuyệt đối. Lao động tham gia lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ áp đảo 76,6% (trong đó trồng trọt chiếm 39,3% với 59 người, chăn nuôi chiếm 37,3% với 56 người). Ngược lại, khu vực phi nông nghiệp chỉ chiếm 23,4% (công nhân chiếm 8,0% với 12 người, buôn bán chiếm 6,7% với 10 người, cán bộ công chức chiếm 6,0% với 9 người và nghề khác chiếm 2,7% với 4 người).
Thứ hai, tính chất thời vụ và cường độ làm việc không ổn định. Trong lĩnh vực nông nghiệp, có tới 62,6% lao động làm việc theo thời vụ (72 người) và chỉ 37,4% làm việc hàng ngày (43 người). Thời gian làm việc bình quân mỗi ngày từ 9 đến 10 giờ chiếm tỷ lệ cao nhất là 48,7% (56 người), từ 11 đến 12 giờ chiếm 13,0% (15 người). Trong khi đó, ở khu vực phi nông nghiệp, tần suất làm việc hàng ngày chiếm tới 77,1% (27 người), phản ánh tính ổn định công việc cao hơn hẳn.
Thứ ba, sự phân hóa và chênh lệch thu nhập sâu sắc. Mức thu nhập phổ biến của lao động nông nghiệp rơi vào khoảng từ 1,5 triệu đến 2 triệu đồng/tháng, chiếm 59,2% (68 người); nhóm có thu nhập dưới 1,5 triệu đồng/tháng chiếm 15,6% (18 người). Đáng chú ý, 79,1% lao động nông nghiệp khẳng định mức thu nhập này không bảo đảm chi tiêu cuộc sống. Thu nhập bình quân của nhóm nông nghiệp đạt khoảng 2,1 triệu đồng/tháng, thấp hơn mức thu nhập bình quân đầu người toàn xã là 2,7 triệu đồng/tháng. Ngược lại, tại khu vực phi nông nghiệp, tỷ lệ người có thu nhập trên 2 triệu đồng/tháng chiếm tới 68,6% (thu nhập bình quân đạt 2,8 triệu đồng/tháng).
Thứ tư, rào cản lớn về vốn nhân lực và điều kiện sản xuất. Có 34,0% lao động nữ chỉ có trình độ tiểu học và 22,7% đạt trình độ THCS. Toàn bộ 100% lao động ở cả hai khu vực đều xác định khó khăn lớn nhất là thiếu kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp. Ngoài ra, 61,7% lao động nông nghiệp thiếu vốn, 74,8% chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thiên tai, dịch bệnh và 37,3% đối mặt với tình trạng thiếu đất canh tác.
Thảo luận kết quả
Khi mô tả qua biểu đồ phân bố thu nhập và biểu đồ cơ cấu nghề nghiệp, sự đối lập giữa hai khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp hiện lên rất rõ nét. Nguyên nhân của thực trạng thu nhập thấp và bấp bênh tại Hòa Định Tây bắt nguồn từ sự kết hợp của nhiều yếu tố:
- Trình độ học vấn thấp làm suy giảm năng lực tiếp thu tiến bộ kỹ thuật (78,4% số người có trình độ tiểu học tập trung ở độ tuổi từ 31 đến 55 tuổi).
- Gánh nặng gia đình đè nặng khi có 82,7% lao động nữ đã kết hôn và 54,6% có từ 3 con trở lên, khiến quỹ thời gian bị phân mảnh nghiêm trọng.
- 62,7% người được khảo sát phản ánh chưa nhận được sự hỗ trợ thiết thực nào từ chính quyền địa phương về đào tạo nghề hay vốn vay ưu đãi.
So sánh với các nghiên cứu trước đây của Ester Boserup (1970) và các công trình khảo sát tại Nghệ An hay Thái Nguyên, kết quả nghiên cứu tái khẳng định quy luật: sự thiếu hụt vốn đầu tư ban đầu cùng tư tưởng định kiến giới đã vô hình trung đẩy phụ nữ nông thôn vào các phân khúc việc làm giá trị gia tăng thấp. Ý nghĩa của phát hiện này chỉ ra rằng, việc giải quyết việc làm cho phụ nữ không thể tách rời chiến lược nâng cao vị thế xã hội và tái cấu trúc kinh tế địa phương.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, 4 nhóm giải pháp trọng tâm được kiến nghị thực hiện:
Thứ nhất, tổ chức đào tạo nghề linh hoạt và chuyển giao khoa học kỹ thuật.
- Hành động: Triển khai các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh lúa chất lượng cao, kỹ thuật chăn nuôi bò lai và phòng chống dịch bệnh theo mùa vụ, kết hợp dạy nghề thủ công (mây tre đan, chế biến hạt điều).
- Chỉ số mục tiêu: Nâng tỷ lệ lao động nữ được đào tạo nghề lên trên 45% và 100% phụ nữ làm nông nghiệp được tiếp cận khuyến nông.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2026 - 2028.
- Chủ thể thực hiện: Trạm Khuyến nông huyện Phú Hòa phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Hòa Định Tây.
Thứ hai, mở rộng quy mô tín dụng ưu đãi và kết nối chuỗi cung ứng sản phẩm.
- Hành động: Thành lập các tổ hợp tác vay vốn không thế chấp thông qua ủy thác Hội Phụ nữ, kết nối các doanh nghiệp bao tiêu nông sản sạch và sản phẩm tiểu thủ công nghiệp.
- Chỉ số mục tiêu: Cung ứng vốn cho ít nhất 60% số hộ phụ nữ có nhu cầu mở rộng sản xuất, nâng mức thu nhập bình quân lên trên 3,5 triệu đồng/tháng.
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2026 đến năm 2027.
- Chủ thể thực hiện: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phú Hòa và UBND xã Hòa Định Tây.
Thứ ba, phát triển các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp tại chỗ.
- Hành động: Khuyến khích mở rộng quy mô các cơ sở gia công hạt điều, may mặc gia công và phát triển nghề dệt, đan lát truyền thống tận dụng thời gian nông nhàn.
- Chỉ số mục tiêu: Thu hút thêm 300 - 400 lao động nữ vào khu vực phi nông nghiệp, giảm tỷ lệ thuần nông xuống dưới 60%.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2026 - 2030.
- Chủ thể thực hiện: Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Phú Hòa và các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp.
Thứ tư, hoàn thiện mạng lưới an sinh và dịch vụ xã hội hóa hỗ trợ gia đình.
- Hành động: Mở rộng các cơ sở giữ trẻ mầm non theo mùa vụ, tổ chức câu lạc bộ gia đình hạnh phúc nhằm thúc đẩy nam giới chia sẻ việc nhà.
- Chỉ số mục tiêu: Giảm thời gian làm việc không tên của phụ nữ từ 3 - 4 giờ/ngày xuống dưới 2 giờ/ngày.
- Thời gian thực hiện: Bắt đầu từ năm 2026.
- Chủ thể thực hiện: Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ xã Hòa Định Tây và các đoàn thể địa phương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp huyện, xã: Sử dụng số liệu thực chứng về 150 mẫu khảo sát và cơ cấu 76,6% lao động nông nghiệp để xây dựng kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quy hoạch mạng lưới an sinh xã hội địa phương.
- Cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp: Tham khảo các mô hình sinh kế bán thời gian và giải pháp tín dụng vi mô để thiết kế các phong trào phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình hiệu quả hơn.
- Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Xã hội học, Kinh tế phát triển, Quản lý lao động: Vận dụng khung phân tích kết hợp giữa thuyết Tân kinh tế cổ điển và thuyết Nữ quyền xã hội chủ nghĩa làm tài liệu học thuật tham khảo cho các đề tài về giới và việc làm nông thôn.
- Các tổ chức phi chính phủ và đơn vị phát triển cộng đồng: Khai thác bức tranh thực trạng về rào cản kỹ năng (100%) và vốn (61,7%) để xây dựng các dự án tài trợ sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân căn bản dẫn đến mức thu nhập dưới 2 triệu đồng/tháng của 59,2% lao động nữ nông nghiệp là gì?
Thực trạng này xuất phát từ việc phụ nữ phụ thuộc hoàn toàn vào canh tác mùa vụ nhỏ lẻ, diện tích đất sản xuất bình quân thấp, thiếu vốn đầu tư (chiếm 61,7%) và chịu rủi ro thiên tai dịch bệnh thường xuyên (chiếm 74,8%), dẫn đến năng suất lao động không cao.
Sự khác biệt rõ nét nhất giữa lao động nữ khu vực nông nghiệp và phi nông nghiệp là gì?
Lao động phi nông nghiệp có tính chất công việc thường xuyên (77,1% làm việc hàng ngày), mức thu nhập bình quân cao hơn rõ rệt (2,8 triệu đồng so với 2,1 triệu đồng/tháng) và 68,6% đạt mức trên 2 triệu đồng/tháng, trong khi lao động nông nghiệp chủ yếu làm việc thời vụ (62,6%).
Tại sao các khóa tập huấn khuyến nông tại địa phương trước đây chưa mang lại hiệu quả cao cho phụ nữ?
Phần lớn các lớp tập huấn được tổ chức vào thời gian chưa phù hợp với lịch sinh hoạt gia đình của phụ nữ, nội dung còn mang tính hình thức và có tới 82,7% phụ nữ đã kết hôn phải ưu tiên chăm sóc gia đình nên nam giới thường là người tham gia thay.
Khung lý thuyết Tân kinh tế cổ điển giải thích sự phân công lao động theo giới trong nghiên cứu như thế nào?
Lý thuyết này chỉ ra rằng trình độ học vấn thấp (34,0% tiểu học) khiến vốn nhân lực của phụ nữ bị đánh giá thấp, buộc họ phải lựa chọn các công việc nội trợ hoặc nông nghiệp linh hoạt để tối thiểu hóa chi phí chăm sóc gia đình.
Mô hình việc làm nào được đánh giá là khả thi nhất cho phụ nữ nông thôn lúc nông nhàn?
Mô hình sản xuất thủ công tại gia đình (như bóc tách hạt điều, mây tre đan, may gia công) kết hợp chuỗi tiêu thụ là phù hợp nhất, giúp hơn 200 lao động tại địa phương tận dụng thời gian rảnh rỗi mà vẫn đảm bảo hoàn thành việc nhà.
Kết luận
- Luận văn đã phản ánh toàn diện bức tranh việc làm của lao động nữ tại xã Hòa Định Tây với 76,6% làm việc trong khu vực nông nghiệp và 62,6% phụ thuộc vào tính chất mùa vụ bấp bênh.
- Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý giữa thời gian lao động kéo dài (48,7% làm việc từ 9 - 10 giờ/ngày) nhưng thu nhập lại ở mức thấp (59,2% chỉ đạt từ 1,5 đến 2 triệu đồng/tháng) do thiếu hụt kiến thức chuyên môn và vốn đầu tư.
- Công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác từ 150 mẫu khảo sát, chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân với cơ hội việc làm của phụ nữ nông thôn.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất có lộ trình rõ ràng từ năm 2026 đến năm 2030, tập trung vào đào tạo nghề, mở rộng tín dụng ưu đãi và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp tại chỗ.
- Đề nghị các cấp chính quyền địa phương và các nhà nghiên cứu nhanh chóng ứng dụng khung giải pháp của luận văn vào thực tiễn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao quyền năng kinh tế và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bền vững.