CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản. Khái niệm sản xuất. Sản xuất là một quá trình kết hợp của các loại nguyên liệu đầu vào vật chất và phi vật chất (kế hoạch, bí quyết…) khác nhau để nhằm tạo ra thứ gì đó cho tiêu dùng (sản phẩm).
Đó là hoạt động tạo ra sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ, có giá trị sử dụng và mang lại ích lợi cho người sử dụng (Kotler và cô ̣ng sự, 2006). Có thể hình dung quá trình này theo sơ đồ sau: Hình 1.1: Sơ đồ quá trình sản xuất (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Như vậy, có thể hiể u sản xuất chính là quá trình ta ̣o ra các sản phẩm hay dịch vụ ở đầu ra bằ ng cách chuyể n hóa các yế u tố đầ u vào phù hơp̣. Khái niệm quản trị sản xuất. Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã đề ra.
Hay nói cách khác, quản trị sản xuất là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và quản trị quá trình sửdụng các yếu tố đầu vào tạo thành các sản phẩm, dịch vụởđầu ra theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định (Nguyễn Thi ̣Minh An, 2006). Quá trình biến đổi là yếu tố trung tâm của quản lý sản xuất. Đó là quá trình chế biến, chuyển hóa các yếu tố đầu vào hình thành hàng hóa hoặc dịch vụ mong muốn, 4 đáp ứng nhu cầu của xã hội. Thông tin phản hồi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống sản xuất của doanh nghiệp.
Đó là những thông tin cho biết tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất trong thực tế của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của quản trị sản xuất là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, nhưng với một lượng lớn hơn số lượng đầu tư ban đầu. Giá trị gia tăng là yếu tố quan trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò, mục tiêu của quản trị sản xuất.
Vai trò của quản trị sản xuất. Doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất bao gồm ba phân hệ cơ bản là quản trị tài chính, quản trị sản xuất và quản trị Marketing. Trong các hoạt động trên, sản xuất được coi là khâu quyết định tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ và giá trị gia tăng. Chỉ có hoạt động sản xuất hay dịch vụ mới là nguồn gốc của mọi sản phẩm và dịch vụ được tạo ra trong doanh nghiệp.
Sự phát triển sản xuất là cơ sở làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế cho nền kinh tế quốc dân, tạo cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển. Quá trình sản xuất được quản lý tốt góp phần tiết kiệm được các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp nói chung. Chất lượng sản phẩm hay dịch vụ do khâu sản xuất hay cung ứng dịch vụ tạo ra. Hoàn thiện quản trị sản xuất tạo tiềm năng to lớn cho việc nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp. Các phân hệ trong hệ thống doanh nghiệp được hình thành và tổ chức các hoạt động sao cho đảm bảo thực hiện tốt nhất mục tiêu tổng quát của toàn hệ thống đã đề ra. Marketing cung cấp thông tin về thị trường cho hoạch định sản xuất và tác nghiệp, tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất nhu cầu trên thị trường với chi phí thấp nhất. Ngược lại sản xuất là cơ sở duy nhất tạo ra hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho chức năng Marketing.
Sự phối hợp giữa quản trị sản xuất và marketing sẽ tạo ra hiệu quả cao trong quá trình hoạt động, giảm lãng phí về nguồn lực và thời gian. 5 Những mâu thuẫn đôi khi là khách quan, song cũng có khi do những yếu tố chủ quan gây ra. Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản là phải tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các chức năng trên nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp đề ra. Mục tiêu của quản trị sản xuất Sản xuất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp, cho nên quản trị sản xuất bị chi phối bởi mục đích của doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh mục đích là lợi nhuận, đối với doanh nghiệp công ích mục đích là phục vụ. Có thể hình dung mục tiêu của quản trị sản xuất thông qua sơ đồ sau: Tính linh hoạt Chi phí Thời gian Môi trường kinh doanh Hình 1.2: Mục tiêu của quản trị sản xuất (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Quản trị sản xuất với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào và cung cấp đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trường, mục tiêu tổng quát đặt ra là đảm bảo thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất. Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các mục tiêu cụ thể: - Đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu khách hàng. - Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra.
- Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ. - Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao dưới 6 những ảnh hưởng của môi trường kinh doanh. Cần chú ý rằng các mục tiêu trên thường mâu thuẫn với nhau. Vấn đề đặt ra là phải biết xác định thứ tự ưu tiên các mục tiêu tạo ra để tạo ra thế cân bằng động, đó là sự cân bằng tối ưu giữa chất lượng, tính linh hoạt của sản xuất, tốc độ cung cấp và hiệu quả phù hợp với hoàn cảnh môi trường trong từng thời kỳ cụ thể để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Nội dung của quản trị sản xuất. Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết lập, hoạch định, tổ chức và kiểm tra hệ thống sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Như vậy, quản trị sản xuất có các chức năng chính đó là: chức năng hoạch định, chức năng tổ chức và chức năng kiểm tra, đánh giá. Dự báo nhu cầu sản xuất.
Khái niệm dự báo. Dự báo nhu cầu sản xuất là quá trình dự báo và ước tính mức độ nhu cầu của sản phẩm hoặc dịch vụ mà một tổ chức doanh nghiệp sản xuất sẽ cần để đáp ứng yêu cầu thị trường trong một khoảng thời gian nhất định. Dự báo nhu cầu sản xuất giúp xác định số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ cần sản xuất, lịch trình sản xuất và phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý để đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách hiệu quả (VTI Solutions, 2023). Phân loại dự báo: Có nhiều cách phân loại dự báo: Theo phương pháp dự báo, có dự báo định tính và dự báo định lượng Theo thời gian đươc̣ phân thành dự báo ngắ n ha ̣n, trung ha ̣n và dài ha ̣n.
Các phương pháp dự báo Phương pháp dự báo có thể chia làm 2 nhóm: - Phương pháp định tính. - Phương pháp định lượng 7 Hình 1.3: Phương pháp dự báo trong sản xuất (Nguồn: Tác giả tổng hợp) 1. Hoạch định tổng hợp Khái niệm, đối tượng của hoạch định tổng hợp Khái niệm: Hoạch định tổng hợp là việc kết hợp các nguồn lực một cách hợp lý vào quá trình sản xuất nhằm cực tiểu hóa các chi phí trong toàn bộ quá trình sản xuất đồng thời giảm đến mức thấp nhất mức dao động của công việc và mức tồn kho cho một tương lai trung hạn. (Nguyễn Thi ̣Minh An, 2006) Đối tượng của hoạch định tổng hợp: là sự biến đổi khả năng sản xuất, đó chính là khả năng của một hệ thống sản xuất cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ cho thị trường.
Khả năng sản xuất của hệ thống này phụ thuộc vào nhiều yếu tố sau: - Khả năng sản xuất của nhà xưởng và máy móc thiết bị. 8 - Khả năng sản xuất của lực lượng lao động hiện có ở đơn vị. - Khả năng làm thêm giờ của công nhân lao động. - Khả năng liên kết hợp đồng với các đơn vị bên ngoài.
- Sự chuẩn bị sẵn sàng về vật tư, nguyên liệu cho sản xuất. Mục tiêu của hoạch định tổng hợp. Mục tiêu của hoạch định tổng hợp là phát triển các kế hoạch sản xuất hiện thực và tối ưu. Tính hiện thực của kế hoạch thể hiện ở chỗ các kế hoạch phải nhằm vào việc đáp ứng các nhu cầu mà doanh nghiệp muốn phục vụ và trong phạm vi khả năng của họ.
Tính tối ưu là bảo đảm việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của doanh nghiệp. Tính tối ưu mặc dù rất khó đạt được, song hoạch định tổng hợp ít nhất cũng phải bảo đảm sử dụng hợp lý nhất đến mức có thể được các nguồn lực và giữ cho chi phí hoạch định là thấp nhất. Để huy động cao nhất các nguồn lực, hoạch định tổng hợp sẽ cố gắng đạt được sản lượng cao trên cơ sở dự kiến tốt các tình thế có thể có nhu cầu cao, chủ động có giải pháp biến đổi sản xuất. Quản tri công ̣ nghê.̣ Khái niệm về công nghệ.
Công nghê ̣ là tâ ̣p hơp̣ các thành tựu khoa ho ̣c sáng ta ̣o của con người để áp du ̣ng vào đời số ng, sản xuấ t nhằ m hỗ trơ ̣ vâ ̣n hành thực hiê ̣n mô ̣t cách dễ dành nhanh chóng và hiê ̣u quả hơn. Ra quyết định về công suất, lựa chọn máy móc thiết bị Mỗi loa ̣i công nghê ̣ mang đế n mô ̣t lươṇ g sản phẩ m tố i đa trong mô ̣t khoản g thời gian nhấ t đinh ̣ thực hiê ̣n công nghê ̣. Ta cầ n cân nhắ c lựa cho ̣n quy trình công nghê ̣ phù hơp̣ trước khi xác định công suất thích hợp, năng lực của công nghệ được lựa chọn.