mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và luận văn được trình bày trong ba chương sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Chƣơng 3: Một số giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. - 14 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Bước sang thế kỷ XX, lĩnh vực giáo dục và khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng, hàng loạt các công trình nghiên cứu mới với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý đã xuất hiện.
Trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩ Mác- Lê nin đã định hướng cho hoạt động giáo dục như các quy luật về “sự hình thành cá nhân con người”, về tính quy định về kinh tế- xã hội với giáo dục. Các qui luật đó đã đặt ra các yêu cầu đối với việc tạo ra các phương tiện, điều kiện cần thiết phục vụ cho giáo dục. Kế thừa tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của triết học Mác- Lê nin, quan điểm về giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những nền tảng lý luận về vai trò của giáo dục, định hướng phát triển giáo dục , vai trò của quản lý, cán bộ quản lý, phương pháp lãnh đạo và quản lý … Hệ thống các tư tưởng của Người về giáo dục, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng, nguồn nhân lực được đào tạo chỉ đáp ứng được yêu cầu trong sự vận động biến đổi ấy khi nó không trở thành lạc hậu so với yêu cầu của xã hội, điều ấy chỉ ra rằng: việc quản lý đội ngũ giáo viên phải có tính đón đầu, có kế hoạch, có chiến lược phát triển chứ không mang tính chất tình thế, nhất thời.
Hiện nay đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu, các giảng viên đại học, các cán bộ quản lý như: Giáo sư Nguyễn Lân, Giáo sư Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Giáo sư Hà Thế Ngữ, PGS - TS Đặng Quốc Bảo, GS –TS Nguyễn Đức Chính, PGS – TS Trần Khánh Đức… bằng sự tổng hòa của các tri thức về giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học… các tác giả đã thể hiện trong các nghiên cứu của mình một cách khoa học về khái niệm quản lý, bản chất hoạt động của quản lý, các - 15 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phần cấu trúc chức năng quản lý, nguyên tắc và phương pháp quản lý, nghệ thuật quản lý, và quản lý giáo dục tạo thành một môn khoa học đặc trưng đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển giáo dục và đào tạo nước nhà. Theo Nguyễn Quang Truyền trong chuyên khảo “Quản lý nhân sự và việc xây dựng ĐNGV trong nhà trường” tác giả quan niệm: “xây dựng và quản lý một ĐNGV đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, loại hình, đoàn kết nhất trí trên cơ sở giáo dục của Đảng và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn nhiệm vụ đủ sức thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo” [39] Tuy nhiên các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên mang tính vĩ mô, định hướng hoạt động cho toàn nền giáo dục Việt Nam. Việc nghiên cứu trong khuôn khổ cụ thể “quản lý đội ngũ giáo viên THCS” ở một địa phương, đơn vị có lẽ ít được đề cập đến. Do vậy, theo tác giả việc nghiên cứu nội dung: “quản lý đội ngũ giáo viên THCS huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên” trong giai đoạn hiện nay cần được quan tâm một cách có hệ thống và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác giáo dục – đào tạo.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Hoạt động quản lý đóng vai trò then chốt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Muốn hoạt động của một tổ chức (dù lớn hay nhỏ) đạt được những thành công nhất định, nhất thiết phải có sự tham gia của hoạt động quản lý. Có thể kể ra một số hoạt động quản lý quan trọng như: quản lý nhà nước, quản lý các doanh nghiệp, quản lý công tác xã hội hay quản lý một nhà trường… mỗi lĩnh vực quản lý tuy có đặc thù riêng song tựu chung lại chúng có những đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý và chính các hoạt động quản lý ấy góp phần vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của từng tổ chức và là nhân tố không thể thiếu trong đời sống, sự tồn tại và phát triển của xã - 16 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Bởi theo các nhà chính trị, các triết gia họ đều coi quản lý như một phạm trù tồn tại khách quan, đồng thời là một tất yếu lịch sử. Các nhà quản lý học đã đưa ra nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý ở từng góc độ. Theo góc độ tổ chức quản lý là: Cai quản, chỉ huy, lãnh đạo. Theo góc độ điều khiển quản lý là: lái, điều chỉnh, điều khiển.
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý hay đối tượng quản lý nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trong các sản xuất xã hội để đạt được mục đích đã định. Dưới đây là một số những quan niệm của các nhà khoa học về khái niệm quản lý: Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) “được coi là cha đẻ của thuyết khoa học quản lý” đã cho rằng: “Quản lý là một nghệ thuật biết rõ chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. Theo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin: “Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ một hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội. Trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hướng khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra”.
Theo Harold Kontz, Cyril Odonnell: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được những mục đích đã định” [19] Một số tác giả như Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quốc Chí cũng cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu đề ra” [28] Như vậy theo cách tiếp cận và các quan niệm của các nhà khoa học về quản lý thì hình như chúng bao hàm những khía cạnh khác nhau, song mục tiêu cuối cùng mà họ đưa ra thì lại hoàn toàn giống nhau. Nghĩa là quản lý là - 17 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để đạt đến chất lượng của sản phẩm, bởi quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết định đúng quy luật và có hiệu quả quản lý đồng thời phải tuân theo những nguyên tắc nhất định nhằm đạt đến mục tiêu chung của tổ chức mình. Từ các khái niệm trên ta thấy: - Quản lý phải bao gồm hai yếu tố chủ thể và khách thể quản lý. - Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó.
- Quản lý tồn tại dưới tư cách là một hệ thống. Nó có cấu trúc và vận hành trong môi trường xác định. Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Trong vấn đề phát triển ĐNGV thì đó là sự tác động của nhà quản lý đến ĐNGV và các lực lượng khác nhằm mục tiêu tăng tiến về số lượng, chất lượng ĐNGV.
Quản lý là những tác động hướng đích với các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo chỉ đạo, điều khiển, kiểm tra. Bản chất của quản lý là sự phối hợp nỗ lực của con người thông qua các chức năng quản lý. Quản lý là một loại hoạt động đặc biệt có tính sáng tạo. hoạt động quản lý cũng phát triển không ngừng từ thấp đến cao, gắn liền với quá trình phát triển đó là sự phân công chuyên môn hóa lao động quản lý.
Sự phân công và chuyên môn hóa lao động quản lý là cơ sở để hình thành các chức năng quản lý. Chức năng quản lý xác định khối lượng công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình quản lý, mọi chức năng có một nhiệm vụ cụ thể là quá trình liên tục của các bước công việc tất yếu phải thực hiện. Toàn bộ hoạt động quản lý đều được thực hiện thông qua chức năng quản lý. Chức năng quản lý xác định mối quan hệ giữa các bộ phận, các khâu, các cấp trong hệ thống quản lý.
Từ những chức năng quản lý mà chủ thể xác định các nhiệm vụ cụ thể, thiết kế bộ máy và bố trí con người phù hợp cũng căn cứ vào chức - 18 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng quản lý mà chủ thể có thể theo dõi, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh sự hoạt động của mỗi bộ phận trong hệ thống, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ các hoạt động đó, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống quản lý hướng vào mục tiêu chung.Fayol đã xác định có 5 chức năng quản lý đó là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra. Trong khi đó các nhà khoa học Việt Nam lại đưa ra 4 chức năng quản lý cụ thể là: - Chức năng kế hoạch hóa. - Chức năng tổ chức. - Chức năng điều khiển ( chỉ huy, lãnh đạo).
- Chức năng kiểm tra đánh giá. Trong đó mỗi chức năng được các tác giả xác định như sau: Chức năng kế hoạch hoá Kế hoạch hóa là bước lập kế hoạch, xác định mục tiêu, xác định các bước đi để đạt mục tiêu, trong đó bao gồm các công việc như xác định con đường, giải pháp cách thức để đạt mục tiêu đó.