Chương I. Cơ sở lý luận và quy định của pháp luật về vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Chương II. Thực trang vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai tại địa bàn quận Tây Hồ Chương III. Một số giải pháp phòng chống vi phạm hành chỉnh trong lĩnh vực đất đại tại địa bàn quận Tây Hồ CHUONG I.
CO SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VE VI PHAM HANH CHÍNH, XỬ LÝ VI PHAM HANH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC DAT DAI 1. Khai niém vi pham hanh chinh 1. Khái niệm vi phạm pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, là các quy tắc hành vi, hay còn gọi là tiêu chuẩn của hành vi con người. Hành vi là những phản ứng, cách ứng xử được biểu hiện ra bên ngoài của con người trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định.
Mỗi hành vi đều được hình thành trên cơ sở nhận thức và kiểm soát của chủ thể, mà chủ thé ý thức được và chủ động thực hiện nó. Những hoạt động của con người không thé coi là hành vi nếu con người hành động trong trạng thái vô thức. Những hành vi của con người được pháp luật quy định, điều chỉnh thì được gọi là hành vi pháp luật. Hành vi pháp luật gắn liền với các quy định của pháp luật, những hành vi không được pháp luật quy định, điều chỉnh thì không phải là hành vi pháp luật.
Hành vi pháp luật rất đa dạng nên có thể phân chia chúng dựa theo nhiều tiêu chí khác nhau. - Căn cứ vào phương thức biểu đạt ra bên ngoài khách quan có thé chia hành vi pháp luật thành hành bi hành động và hành vi không hành động. - Căn cứ vào chủ thê thực hiện có thể chia hành vi pháp luật thành hành vi của cá nhân và hành vi của tô chức. - Căn cứ vào sự phù hợp của hành vi với quy định của pháp luật có thể chia hành vi pháp luật thành hành vi hợp pháp và hành vi không hợp pháp.
Hành vi hợp pháp là những hành vi được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi không hợp pháp là hành vi được thực hiện trái với những quy định của pháp luật. Hành vi không hợp pháp được phân chia thành hành vi vi phạm pháp luật và hành vi trái pháp luật nhưng không bị coi là vi phạm pháp luật. Hành vi vi phạm pháp luật là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái với quy định của pháp luật và do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện.
Các dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật: - Là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Vi phạm pháp luật là hành vi của con người hoặc hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội. nguy hiểm hoặc có khả năng nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó có thé biểu hiện bằng hành động hoặc không hành động của các chủ thé pháp luật.
Pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ hoặc những đặc tính cá nhân khác của con người nếu như những đặc tính đó không biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ. Vì vậy, suy nghĩ, tính cảm, các đặc tính cá nhân khác của con người và ca sự biến cho dù có nguy hiểm cho xã hội cũng không bi coi là vi phạm pháp luật. - Là hành vi trái pháp luật và xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác lập và bảo vệ. Vi phạm pháp luật không những là hành vi nguy hiểm của các chủ thể pháp luật mà hành vi đó còn phải trái pháp luật, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được pháp luật xác luật và bảo vệ.
Những hành vi trái với quy định của các tô chức xã hội, trái với quy tắc tập quán hoặc đạo đức. mà không trái với pháp luật thì không được gọi là hành vi vi phạm pháp luật. Như vậy, tính trái pháp luật là dấu hiệu không thê thiếu của hành vi bị coi là vi phạm pháp luật. - Là hành vi có lỗi của chủ thể.
Lỗi là yếu tố chủ quan thé hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình. Nếu một hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện và hoàn cảnh khách quan, chủ thé thực hiện hành vi đó không cố ý và cũng không vô ý thực hiện hoặc không thé nhận thức được; từ đó không lựa chọn được cách xử sự theo yêu cầu của pháp luật thì chủ thể thực hiện hành vi đó không bị coi là có lỗi và hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật. Ké cả những hành vi trái pháp luật mà chủ thể buộc phải thực hiện khi không có sự lựa chọn khác cũng có thể không bi coi là vi phạm pháp luật. Như vậy, những hành vi trái pháp luật mang tinh khách quan, không có lỗi của chủ thé thực hiện hành vi đó thì không bị coi là vi phạm pháp luật.
- Chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng tự mình chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật trước cơ quan nha nước có thâm quyền của chủ thé. Vì vậy chủ thé của vi phạm pháp luật phải là những người đã dat tới một độ tuổi nhất định, không mắc bệnh tâm thần và các bệnh khác làm mat khả năng nhận thức và kha năng điều khiển hành vi của mình, có điều kiện lựa chọn và quyết định cách xử sự. Khái niệm vi phạm hành chính Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội. Tuy có mức đô nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính là những vi phạm gây thiệt hai hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời.
Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh Xử phat vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Tại Điều 1 của Pháp lệnh đã ghi rõ: "Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính". Tại khoản 2, Điều 1 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm hành chính cũng được định nghĩa một cách gián tiếp: "Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bi xử phạt hành chính". Trên cơ sở những nội dung đã được nêu ra trong hai văn bản pháp luật nêu trên, có thê đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính như sau:Vi phạm hành chính là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
Khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành, các loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 1. Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Từ khái niệm VPHC, ta có thể đưa ra khái niệm VPHC trong lĩnh vực đất đai như sau: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hành vi trái pháp luật đất đai, được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quyền sở hữu đất đai của Nhà nước, quyền và lợi ích của người sử dụng dat cũng như các quy định về chế độ sử dụng các loại đất mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất dai Một là, có hành vi trái pháp luật đất đai.
Dé xác định có hành vi trái pháp luật đất đai thì ta phải căn cứ vào những quy định của pháp luật về đất đai, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai, những phong tục, tập quán của từng địa phương để xem xét về một hành vi cụ thê. Nếu một chủ thể thực hiện những việc mà pháp luật đất đai nghiêm cắm hoặc không làm những việc mà pháp luật đất đai yêu cầu thì người đó là người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Vì vậy hành vi trái pháp luật đất đai là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai. Hành vi không bị coi là trái pháp luật đất đai khi nó có liên quan đến việc thực hiện một mệnh lệnh khan cấp của cơ quan nhà nước có thâm quyền hoặc những sự kiện xảy ra ngoài ý chí và kha năng của người sử dung đất (tinh thế cấp thiết hay sự kiện bat ngờ).
Hai là, có lỗi. Lỗi là trạng thái tâm lý, là ý chí chủ quan của con người đối với hành vi và hậu quả do hành vi của họ gây ra được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Vì vậy phải xét yếu tố lỗi chính xác đề xác định được hình thức xử lý phù hợp với hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Hành vi VPHC về đất đai có thể thực hiện bằng hành động như việc lấn, chiếm đất dai, phá vỡ mặt bằng đất canh tác, sử dung đất không đúng mục đích.
hoặc không hành động như không sử dụng đất, không cải tạo, bồi bổ đất, không ngăn chặn sự xói mòn đất đai. Hành vi trái pháp luật là sự thực hiện trên thực tế của người vi phạm còn lỗi thể hiện mục đích cần đạt được của hành vi đó.