Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ được xem là "thước đo sức cạnh tranh và khả năng phát triển" của mỗi quốc gia cũng như từng doanh nghiệp. Việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải xác định chính xác giá trị kinh tế của công nghệ – một dạng tài sản vô hình phức tạp. Tại Việt Nam, hệ thống nghiên cứu sở hữu tiềm năng to lớn với khoảng 1.500 viện, trung tâm nghiên cứu và gần 60.000 cán bộ nghiên cứu trực tiếp, nhưng thị trường khoa học và công nghệ vẫn chưa phát triển tương xứng. Vấn đề cốt lõi nảy sinh khi các giao dịch chuyển giao công nghệ, cổ phần hóa và góp vốn liên doanh gặp điểm nghẽn do thiếu vắng các định chế định giá công nghệ độc lập, khách quan và chuyên nghiệp.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hoạt động của các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế tại Hàn Quốc, Trung Quốc và Cộng hòa Liên bang Đức; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển mạng lưới các tổ chức định giá công nghệ. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam trong giai đoạn 2000–2018, đồng thời mở rộng nghiên cứu điển hình tại các quốc gia có mô hình chuyển giao công nghệ tiên tiến.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc tháo gỡ nút thắt định giá, tạo tiền đề để thúc đẩy mục tiêu phát triển 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đồng thời cải thiện thực trạng khi chỉ có khoảng 42% tổ chức trung gian hiện nay ghi nhận doanh thu từ hoạt động định giá chuyên biệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận hoạt động định giá công nghệ dựa trên việc tổng hợp các nền tảng lý luận kinh tế và quản lý công nghệ hiện đại. Cụ thể, nghiên cứu vận dụng mô hình bốn thành phần công nghệ của Sharif và Ramanathan bao gồm: phần kỹ thuật (Technoware), phần con người (Humanware), phần thông tin (Infoware) và phần tổ chức (Orgaware). Bên cạnh đó, luận văn áp dụng khung lý thuyết 8P về công nghệ nhằm nhìn nhận công nghệ dưới dạng một hệ thống chuyển đổi từ bí quyết sở hữu độc quyền sang sản phẩm thương mại sinh lợi.

Trong hệ thống định giá, ba khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: chuyển giao công nghệ, tổ chức trung gian công nghệ và định giá công nghệ. Định giá công nghệ được hiểu là quá trình đo lường lợi nhuận tài chính, đánh giá rủi ro và xác định giá trị tiền tệ của công nghệ trong điều kiện thị trường nhất định. Luận văn đi sâu vào ba phương pháp định giá căn bản:

  • Phương pháp chi phí: Xác định chi phí tái tạo hoặc chi phí thay thế trừ đi các hao mòn tự nhiên, hao mòn chức năng và hao mòn kinh tế.
  • Phương pháp thị trường: So sánh và điều chỉnh mức giá giao dịch thực tế của ít nhất 03 công nghệ tương đương trên thị trường.
  • Phương pháp thu nhập: Áp dụng kỹ thuật chiết khấu dòng tiền tương lai (DCF) dựa trên việc bóc tách doanh thu trực tiếp từ công nghệ, chi phí đầu tư, vòng đời kinh tế và tỷ suất chiết khấu phi rủi ro từ trái phiếu chính phủ kỳ hạn từ 10 năm trở lên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng, kết hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức của Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ cùng hệ thống dữ liệu khảo sát sơ cấp. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng kế thừa và phân tích sâu bộ dữ liệu điều tra từ 123 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dữ liệu khảo sát từ các viện nghiên cứu, trường đại học lớn trên toàn quốc.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho cả ba chủ thể chính: bên cung (viện, trường), bên cầu (doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp khoa học công nghệ) và bên trung gian (tổ chức tư vấn, sàn giao dịch). Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp giữa phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh định tính chính sách liên quốc gia và mô hình hóa dòng tiền chiết khấu. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh chính xác các biến số kinh tế phức tạp, sự chênh lệch cung - cầu và tính khả thi trong việc lượng hóa giá trị tài sản vô hình theo mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường dịch vụ định giá công nghệ tại Việt Nam còn ở mức độ sơ khai và thiếu tính chuyên nghiệp. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng chỉ có khoảng 42% tổ chức trung gian có phát sinh doanh thu từ hoạt động định giá công nghệ chuyên trách; 58% còn lại phải gộp chung hoặc bù đắp chi phí bằng các dịch vụ tư vấn tổng hợp, dịch vụ sở hữu trí tuệ hoặc phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.

Thứ hai, tồn tại sự đứt gãy và bất cập nghiêm trọng giữa nguồn cung của các viện nghiên cứu và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Theo số liệu khảo sát, có tới 84% ý tưởng đổi mới sáng tạo nảy sinh từ nội bộ doanh nghiệp và phản hồi của khách hàng, trong khi chỉ có 10% ý tưởng bắt nguồn từ các viện nghiên cứu và trường đại học. Đáng chú ý, khoảng 60% doanh nghiệp hoàn toàn không có mối liên hệ hoặc hợp tác nghiên cứu triển khai với các viện, trường.

Thứ ba, tốc độ phát triển các doanh nghiệp khoa học công nghệ còn chậm so với tiềm năng. Dù cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp hơn 40% GDP và sử dụng 51% lực lượng lao động xã hội, số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ được cấp chứng nhận mới đạt hơn 300 doanh nghiệp trên tổng số khoảng 2.000 doanh nghiệp hoạt động theo định hướng này, tạo ra khoảng cách lớn so với mục tiêu 5.000 doanh nghiệp vào năm 2020. Nguyên nhân trực tiếp là thiếu các tổ chức định giá giúp xác định giá trị tài sản góp vốn bằng công nghệ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên cho thấy phần lớn các giao dịch mua bán công nghệ hiện nay diễn ra trực tiếp theo hình thức mua sắm máy móc thiết bị thuần túy, bỏ qua khâu định giá tri thức vô hình. Khi mô tả dữ liệu qua bảng so sánh mức độ bất cập giữa năng lực của viện nghiên cứu và nhu cầu doanh nghiệp, sự sai lệch thể hiện rõ nét ở các chỉ số: năng lực cung cấp thông tin công nghệ bị đánh giá chênh lệch âm 5 điểm, thiết kế kỹ thuật chênh lệch âm 4 điểm, trong khi dịch vụ lắp đặt vận hành lại lệch dương 8 điểm. Đồng thời, biểu đồ cơ cấu nguồn thu của các tổ chức trung gian phản ánh sự mất cân đối khi mảng định giá chỉ đóng góp tỷ trọng thứ yếu.

So sánh với quốc tế, tại Hàn Quốc, chương trình nghiên cứu phát triển quốc gia từng đầu tư 4,7 tỷ USD cho 19.000 dự án giai đoạn 1982–2000 nhưng chỉ có 4,8% được ứng dụng thực tế. Nhận diện điểm nghẽn này, Hàn Quốc đã ban hành Luật Xúc tiến chuyển giao công nghệ năm 2000 và thành lập Trung tâm KTTC, tạo mạng lưới kết nối viện trường với doanh nghiệp thông qua tổ hợp 2.000 giáo sư từ 122 trường đại học. Tương tự, sàn giao dịch Thượng Hải (STTE) của Trung Quốc thành lập từ năm 1993 đã chuẩn hóa việc cấp chứng chỉ định giá viên qua 3 cấp bậc và miễn thuế doanh nghiệp cho hoạt động tư vấn công nghệ theo Nghị quyết năm 1999. Tại Đức, hệ thống 309 tổ chức định giá công nghệ hoạt động hiệu quả nhờ viện ITAS và TAB tư vấn chính sách trực tiếp cho Quốc hội. Việc thiếu các quy định chi tiết về điều kiện hành nghề trong Thông tư 31/2011/TT-BKHCN và Nghị định 76/2018/NĐ-CP đã khiến các tổ chức định giá tại Việt Nam chưa tạo đủ niềm tin pháp lý cho thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển bền vững mạng lưới các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa điều kiện hành nghề: Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi Thông tư 31/2011/TT-BKHCN và bổ sung quy định hướng dẫn chi tiết Điều 45, 48 Luật Chuyển giao công nghệ 2017. Mục tiêu ban hành bộ tiêu chuẩn thẩm định giá tài sản trí tuệ và công nghệ chuyên biệt, quy định điều kiện cấp phép hoạt động đối với tổ chức định giá và chuẩn hóa 100% quy trình cấp chứng chỉ hành nghề định giá viên công nghệ trong giai đoạn 2020–2023.
  • Xây dựng và liên thông hệ thống sàn giao dịch công nghệ quốc gia: Đầu tư nâng cấp 03 sàn giao dịch công nghệ trọng điểm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng kết nối với mạng lưới trung tâm ứng dụng chuyển giao công nghệ tại 63 tỉnh thành. Thiết lập ngân hàng dữ liệu công nghệ quốc gia tích hợp hơn 1.500 viện, trường nhằm nâng tỷ lệ giao dịch công nghệ thông qua các tổ chức định giá trung gian lên mức tối thiểu 35% vào năm 2025.
  • Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu: Giao Học viện Khoa học Xã hội, Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ phối hợp với các tổ chức quốc tế tổ chức đào tạo theo mô hình 3 cấp bậc của Trung Quốc. Phấn đấu đào tạo và cấp chứng chỉ chuyên môn cho 500 định giá viên công nghệ đạt chuẩn quốc tế trước năm 2025.
  • Thực thi chính sách đòn bẩy tài chính và ưu đãi thuế: Bộ Tài chính tham mưu Chính phủ ban hành chính sách miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu và giảm 50% trong 5 năm tiếp theo đối với nguồn thu từ dịch vụ định giá công nghệ; cấp bù lãi suất vay vốn cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ có hồ sơ định giá độc lập, tạo động lực đạt mục tiêu 5.000 doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ các địa phương sử dụng luận văn làm căn cứ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện thông tư hướng dẫn điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề và phát triển thị trường công nghệ.
  • Các tổ chức định giá, sàn giao dịch và văn phòng chuyển giao công nghệ: Lãnh đạo các trung tâm thẩm định giá, văn phòng TLO tại các trường đại học ứng dụng bộ tiêu chuẩn định giá theo phương pháp chi phí, thị trường và chiết khấu dòng tiền DCF để chuẩn hóa quy trình dịch vụ cho khách hàng.
  • Doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp khoa học công nghệ: Ban giám đốc và bộ phận R&D của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khai thác quy trình định giá để phục vụ công tác cổ phần hóa, huy động vốn đầu tư mạo hiểm, đàm phán hợp đồng li-xăng hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp bằng tài sản trí tuệ.
  • Viện nghiên cứu, trường đại học và học viên cao học: Các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ, Quản trị công nghệ tham khảo hệ thống dữ liệu, mô hình THIO và các bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

  • Hoạt động định giá công nghệ khác biệt như thế nào so với thẩm định giá tài sản thông thường? Định giá công nghệ tập trung vào tài sản vô hình với độ bất định cao về mặt kỹ thuật, chu kỳ sống và rủi ro thương mại hóa. Quá trình này đòi hỏi phải phân tích đồng thời bốn thành phần gồm thiết bị, con người, thông tin, tổ chức theo mô hình THIO và dự báo thị trường, thay vì chỉ căn cứ vào nguyên giá hay khấu hao vật chất như tài sản hữu hình thông thường.

  • Phương pháp định giá nào được đánh giá tối ưu nhất cho công nghệ mới? Phương pháp thu nhập sử dụng kỹ thuật chiết khấu dòng tiền ròng tương lai được xem là tối ưu nhất cho công nghệ mới có tiềm năng thương mại cao. Phương pháp này lượng hóa chính xác giá trị hiện tại của công nghệ dựa trên doanh thu gia tăng dự kiến, có tính đến tỷ suất chiết khấu bù đắp rủi ro và vòng đời kinh tế thực tế của sáng chế.

  • Vì sao các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn e ngại thuê dịch vụ định giá công nghệ độc lập? Nguyên nhân chủ yếu do thị trường thiếu vắng các tổ chức định giá uy tín được nhà nước cấp chứng chỉ chính thức, quy định pháp lý chưa bắt buộc phải có chứng thư định giá trong nhiều giao dịch thương mại, cùng với tâm lý lo ngại lộ bí mật kinh doanh và thói quen tự thỏa thuận giá theo cảm tính giữa bên bán và bên mua.

  • Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm cụ thể nào từ mô hình định giá công nghệ Hàn Quốc? Việt Nam có thể học tập trực tiếp mô hình Trung tâm KTTC và mạng lưới UNITEF của Hàn Quốc. Mô hình này kết nối trực tiếp hơn 2.000 giáo sư công nghệ hỗ trợ kỹ thuật miễn phí ban đầu cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời xây dựng ngân hàng dữ liệu công nghệ quốc gia bắt buộc lưu trữ mọi kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước.

  • Quy định hiện hành tại Việt Nam điều chỉnh hoạt động của tổ chức định giá công nghệ gồm những văn bản nào? Khung pháp lý hiện hành bao gồm Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 tại các Điều 43, 45, 48; Nghị định 76/2018/NĐ-CP; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013; Thông tư 31/2011/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ và Tiêu chuẩn thẩm định giá số 13 ban hành kèm theo Thông tư 06/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về công nghệ, mô hình 8P, cấu trúc 4 thành phần THIO và chuẩn hóa 3 phương pháp định giá công nghệ cốt lõi phục vụ thương mại hóa tài sản trí tuệ.
  • Phản ánh toàn diện bức tranh thực tiễn thị trường khoa học công nghệ Việt Nam với bằng chứng thực nghiệm: 42% tổ chức trung gian có doanh thu định giá, 60% doanh nghiệp chưa kết nối với viện trường và rào cản chuyển đổi 2.000 doanh nghiệp tiềm năng sang doanh nghiệp khoa học công nghệ.
  • Đúc kết sâu sắc kinh nghiệm thực thi từ mô hình KTTC Hàn Quốc, sàn giao dịch STTE Thượng Hải và viện ITAS của CHLB Đức để rút ra bài học thích ứng cho điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình 2020–2025 về hoàn thiện thể chế, phát triển sàn giao dịch công nghệ liên thông, đào tạo 500 định giá viên và thực thi đòn bẩy ưu đãi thuế.
  • Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao, góp phần hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước và thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thị trường công nghệ quốc gia.

Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp triển khai các đề xuất chính sách trên nhằm tạo bước chuyển biến đột phá cho thị trường chuyển giao công nghệ Việt Nam trong kỷ nguyên số.