Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về thị trường công nghệ và vai trò nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ. Chương 2: Thực trạng vai trò nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ thời gian qua ở nứơc ta. Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản tăng cường vai trò Nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ nước ta trong thời gian tới. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ THỊ TRƢỜNG CÔNG NGHỆ VÀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG CÔNG NGHỆ 1.
Hàng hoá công nghệ và thị trƣờng công nghệ 1. Hàng hoá công nghệ * Một số khái niệm cơ bản - Khoa học: Một hiện tượng của đời sống xã hội., nó vừa là hệ thống những tri thức, vừa là sự sản xuất của cải tinh thần - sản xuất những tri thức cùng hoạt động thực tiễn dựa vào tri thức đó. Mặc dù còn có thể có ý kiến khác nhau nào đó, song có thể hiểu. Khoa học là một tập hợp các tri thức của nhân loại về các phạm trù và quy luật vận động và phát triển khách quan của thế giới tự nhiên, kỹ thuật, xã hội và bản thân con người.
Khoa học thuộc hình thái ý thức xã hội, mà tri thức của nó được biểu hiện ở các phạm trù, định luật và quy luật về tự nhiên kỹ thuật, xã hội và bản thân con người. Khi tri thức của con người về tự nhiên kỹ thuật, xã hội và bản thân con người có sự biến đổi mới và sâu sắc hơn so với tri thức trước đó trong phạm vi rộng hoặc hẹp, được gọi là cách mạng khoa học, Người ta phân loại khoa học thành các loại sau: + Khoa học tự nhiên - kỹ thuật, nghiên cứu các quy luật tự nhiên và phương thức chinh phục và cải tạo tự nhiên kỹ thuật; + Khoa học xã hội, nghiên cứu những hiện tượng xã hội khác nhau, các phạm trù, các quy luật vận động phát triển của chúng và cả bản thân con người. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam Xét về vai trò và tác dụng, có thể thấy khoa học bao gồm: khoa học cơ bản, thực nghiệm và khoa học ứng dụng. Chính vì thế, nên trong Điều 2 Luật Khoa học và công nghệ đã giải thích: “Khoa học là hệ thông tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy” [48].
- Công nghệ: Theo nghĩa rộng không chỉ là các phương tiện, thiết bị do con người sáng tạo ra mà còn là các bí quyết biến các nguồn lực sẵn có thành sản phẩm. Ngày nay người ta thường sử dụng thuật ngữ công nghệ theo nghĩa rộng bao gồm 4 thành phần sau đây: +Trang thiết được coi là “xương sống”, là “cốt lõi” của các hoạt động chuyển hóa của đối tượng lao động. + Kỹ năng và tay nghề, thành phần này có liên quan đến kinh nghiệm nghề nghiệp của từng người, hoặc nhóm người và nó được coi là “chìa khoá” của sản xuất. + Thông tin, có liên quan đến các bí quyết, các quy trình, các phương pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế.
+ Tổ chức, thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều phối, quản lý, tiếp thị… có liên quan đến nhiệm vụ liên kết các thành phần nói trên và kích thích người lao động hăng hái làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các thành phần nói trên có mối quan hệ tương tác với nhau hợp thành nội dung của khái niệm công nghệ [41, tr. Luật Khoa học và công nghệ, Điều 2 giải thích: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” [48]. - Mối quan hệ và sự khác nhau giữa khoa học và công nghệ.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam Công nghệ không phải là “lực lượng độc lập và tự trị” hay khái niệm tự nó, mà nó tuỳ thuộc trên mức độ lớn, nếu không muốn nói là sự tuỳ thuộc quyết định bởi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ. Ngoài vai trò của môi trường chính trị, cần phải được nhấn mạnh đến môi trường về tiềm lực khoa học công nghệ và tình hình nghiên cứu khoa học của từng quốc gia và từng thời kỳ nhất định. Tiềm lực khoa học và công nghệ được hiểu là tổng thể các nguồn lực kinh tế và tinh thần có được để phát triển khoa học và công nghệ. Cơ cấu của tiềm lực khoa học và công nghệ bao gồm lực lượng cán bộ khoa học công nghệ, nguồn tài chính và các cơ sở nghiên cứu thí nghiệm và thực nghiệm.
Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu khoa học cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai. Kinh nghiệm các nước trong thời kỳ đầu của CNH - HĐH, việc nghiên cứu ứng dụng và triển khai thường được coi trọng. Khoa học và công nghệ là 2 khái niệm có mối quan hệ với nhau được thể hiện thông qua họat động khoa học và công nghệ. Luật khoa học và công nghệ, điều 2 giải thích: “Hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học và nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ” [48].
Không có những thành tựu trong nghiên cứu khoa học thì sẽ không có những tiến bộ trong công nghệ. Nghiên cứu khoa học mà kết quả của nó là tạo ra các sản phẩm khoa học tồn tại dưới hình thức sản phẩm công nghệ được ứng dụng trong lĩnh vực tự nhiên, kỹ thuật và trong lĩnh vực xã hội nhân văn. Ranh giới tương đối giữa khoa học và công nghệ là ở chỗ: nói khoa học là nói về ý thức xã hội, nói đến việc nghiên cứu sáng tạo tri thức, phát minh để tạo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam ra nhưng thành tựu về công nghệ. Còn nói công nghệ là nói đến kết quả của việc nghiên cứu sáng chế phát minh, là nói đến hoạt động ứng dụng vào thực tiễn, là nói đến việc cải tạo thực tiễn đời sống kinh tế, công nghệ và xã hội ngày một tiến bộ hơn trước.
Luận văn nghiên cứu công nghệ với tư cách là sản phẩm công nghệ dưới hình thái hàng hóa được dùng để giao dịch, trao đổi, mua bán trên TTCN. Toàn bộ hoạt động nói trên gắn liền với dịch vụ khoa học và công nghệ. Điều 2 của Luật Khoa học và công nghệ, giải thích: “Dịch vụ khoa học và công nghệ là các họat động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn” [48]. * Sản phẩm công nghệ là hàng hóa.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc lý giải sản phẩm công nghệ là hàng hoá bắt nguồn từ những luận cứ sau: Thứ nhất: ngành khoa học công nghệ là ngành công nghiệp quan trọng sản xuất ra sản phầm công nghệ. Thật vậy, sản phẩm công nghệ do ngành khoa học - công nghệ tạo ra thông qua việc độc lập hóa nghiên cứu và hoạt động nghiên cứu làm cơ sở tự nhiên, cùng với việc phát triển của phân công lao động xã hội hoạt động này ngày một phát triển độc lập với các ngành sản xuất vật chất khác để trở thành ngành công nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, mà sản phẩm của nó là sản phẩm công nghệ. Hơn nữa các cơ quan nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ trở thành chủ thể kinh tế kết hợp trách nhiệm và quyền lợi là cơ sở hình thành quyền sở hữu tài sản của sản phẩm công nghệ - quyền sở hữu trí tuệ. Và sau cùng là tính độc quyền của các thành quả công nghệ hay sản phẩm công nghệ là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam điều kiện tồn tại với tính cách là một ngành công nghiệp độc lập và là một điều kiện để sản phẩm của ngành công nghệ trở thành hàng hóa.
Thứ hai: Sản phẩm công nghệ vẫn có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị. Thành quả khoa học và công nghệ được ứng dụng vào sản xuất có thể tạo ra sản phẩm mới, đổi mới thiết bị công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, nghĩa là sản phẩm công nghệ có công dụng. Hơn nữa quá trình tạo ra sản phẩm công nghệ ngành khoa học và công nghê cũng có những hao phí lao động sống và lao động quá khứ được kết tinh trong sản phẩm công nghệ và được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, có giá trị và giá cả. Rõ ràng sản phẩm công nghệ vừa có công dụng làm thoả mãn nhu cầu của người sử dụng vừa đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, nghĩa là nó cũng có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nên đủ tư cách là một hàng hóa.
* Hàng hóa công nghệ, về hình thức có thể phân thành các loại sau: - Linh kiện cứng chỉ công nghệ tồn tại dưới hình thái hiện vật. - Linh kiện mềm chỉ các tài liệu văn bản, bao gói mềm của thiết bị công nghệ có thể ứng dụng vào sản xuất tồn tại với hình thức độc lập. - Dịch vụ và tư vấn công nghệ với hình thái lưu động. - Hình thức hỗn hợp.
* Tính đặc thù của hàng hóa công nghệ Hàng hóa công nghệ khác với các hàng hóa khác ở những điểm sau đây: Thứ nhất: Tính đặc thù về giao dịch, sự giao dịch các hàng hóa thông thường là sự chuyển nhượng quyền sở hữu và quyền sử dụng của hàng hoá, còn sự giao dịch hàng hóa công nghệ do tính đặc thù của nó nên không phải là sự 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam chuyển nhượng quyền sở hữu, mà chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng công nghệ. Sau khi bên mua có quyền sử dụng hàng hóa công nghệ thì bên bán ngoài việc ký hợp đồng độc quyền với bên mua hoặc cấp cho bên mua giấy phép, vẫn có quyền tiếp tục sử dụng và tiếp tục chuyển nhượng công nghệ đó cho người khác. Ngoài ra, việc giao dịch các hàng hóa công nghệ thường phải xác định rõ ràng quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên dưới hình thức hợp đồng.