Tổng quan nghiên cứu

Thị trường miền Bắc với quy mô dân số xấp xỉ 32 triệu người, chiếm 36% dân số cả nước và mức tiêu thụ bình quân đạt 1,5 đôi giày/người/năm, là một thị trường nội địa đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp sản xuất da giày Việt Nam. Tuy nhiên, trước các biến động thương mại quốc tế sâu sắc, tiêu biểu là việc Liên minh châu Âu áp mức thuế chống bán phá giá 10% vào năm 2006 đối với giày mũi da xuất khẩu từ Việt Nam và sự sụt giảm đơn hàng tại các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2007 - 2009, các doanh nghiệp buộc phải tái cấu trúc chiến lược và quay trở lại thị trường nội địa. Thực tế ghi nhận các doanh nghiệp trong nước mới chỉ nắm giữ khoảng 30% thị phần tại miền Bắc, trong khi 70% còn lại thuộc về hàng ngoại nhập và hàng tiểu ngạch từ Trung Quốc với mức giá cạnh tranh từ 120.000 đến 240.000 đồng/đôi.

Vấn đề cốt lõi được luận văn tập trung giải quyết là sự thiếu hụt định hướng chiến lược thương mại nội địa, sự kém hiệu quả của hệ thống phân phối truyền thống và năng lực thích ứng của doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hoạt động thương mại của Công ty Cổ phần Đầu tư, Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội trong giai đoạn 2007 - 2009, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp gia tăng thị phần nội địa từ mức xấp xỉ 39% lên các mức cao hơn. Nghiên cứu giới hạn không gian tại thị trường miền Bắc trọng tâm là Hà Nội, mang ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và tối ưu hóa chuỗi giá trị ngành da giày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết thương mại hàng hóa và học thuyết kinh tế thị trường hiện đại của Samuelson và David Begg nhằm luận giải cơ chế hình thành giá cả, quan hệ cung - cầu và quá trình lưu chuyển hàng hóa. Hoạt động thương mại được tiếp cận theo Luật Thương mại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xác định bản chất thương mại là tổng thể các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ gắn với mục đích sinh lợi. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết chuỗi giá trị và lý thuyết lợi thế so sánh nhằm phân tích các khâu tạo giá trị gia tăng trong ngành công nghiệp chế biến da giày.

Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài gồm:

  1. Phát triển thương mại ngành hàng: Sự nỗ lực cải thiện quy mô, chất lượng và phương thức phân phối nhằm tối đa hóa mức tiêu thụ và hiệu quả thương mại trên thị trường mục tiêu.
  2. Hiệu quả thương mại: Thước đo phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả đầu ra với chi phí nguồn lực đầu vào của quá trình lưu thông hàng hóa.
  3. Thị trường mục tiêu vùng miền: Không gian kinh tế có đặc thù về mật độ dân cư, mức thu nhập tăng từ 163.000 đồng/tháng năm 1999 lên 512.000 đồng/tháng năm 2006, cùng các tập quán tiêu dùng chuyên biệt.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp trong mốc thời gian 2007 - 2009. Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp gồm 32 phiếu điều tra và phỏng vấn chuyên sâu, trong đó có 15 phiếu phân bổ cho 5 doanh nghiệp tiêu biểu (riêng Công ty Cổ phần Đầu tư, Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội khảo sát 5 phiếu), cùng nhóm người tiêu dùng và chuyên gia ngành thương mại. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp thuận tiện và định mức được áp dụng nhằm tối ưu hóa chi phí, đảm bảo tính đại diện và tiếp cận đúng các nhân sự phụ trách kinh doanh.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, số liệu từ Tổng cục Thống kê và Hiệp hội Da giày Việt Nam. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh tỷ trọng và phương pháp quy nạp kinh tế được lựa chọn nhằm đo lường chính xác tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần đạt mức 103.142,5 triệu đồng năm 2007 và đánh giá sự dịch chuyển cơ cấu kênh phân phối.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng thương mại mặt hàng giầy da trên thị trường miền Bắc duy trì mức tăng bình quân từ 10% đến 12%/năm. Cơ cấu tiêu dùng toàn thị trường ghi nhận mặt hàng giày vải chiếm 45%, giày thể thao chiếm 29% và giày da chiếm 21%. Toàn ngành đã đầu tư 22.000 tỷ đồng tính đến hết năm 2008, trong đó 17.000 tỷ đồng đầu tư máy móc với hơn 900 dây chuyền nhập khẩu từ Đài Loan và Hàn Quốc, nâng mức sử dụng công suất đạt trên 90%.

Thứ hai, tại Công ty Cổ phần Đầu tư, Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội, mặt hàng giầy da chiếm tỷ trọng chi phối 86% tổng doanh thu. Doanh thu thuần tăng trưởng 0,97% năm 2008 và 4,13% năm 2009. Tuy nhiên, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh sụt giảm 47,1% năm 2008 trước khi phục hồi tăng 68,7% vào năm 2009, tương ứng mức tăng 946,82 triệu đồng trong bối cảnh tổng chi phí năm 2009 ghi nhận 16.005,3 triệu đồng.

Thứ ba, cơ cấu phân phối có sự chuyển biến rõ nét. Kênh bán hàng trực tiếp của công ty năm 2009 chiếm 50,29% (đạt 60.583,09 triệu đồng, tăng 6,42%), trong khi kênh gián tiếp chiếm 49,71%. Trên toàn thị trường, phương thức bán lẻ truyền thống giảm từ 80% năm 2007 xuống 73% năm 2009, nhường thị phần cho kênh hiện đại tăng từ 20% lên 27%.

Thứ tư, tỷ lệ khách hàng quay lại mua sản phẩm đạt mức ấn tượng 65% tại doanh nghiệp và 60% trên toàn thị trường miền Bắc, phản ánh chất lượng gia công theo chuẩn ISO 9001. Tuy vậy, tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại chỉ đạt 25% đến 30% do phải nhập khẩu từ 60% đến 80% nguyên phụ liệu.

Thảo luận kết quả

Khi dữ liệu được biểu diễn qua bảng cân đối kết quả kinh doanh và biểu đồ phân bổ kênh phân phối, có thể thấy rõ sự phụ thuộc lớn của doanh nghiệp vào khâu gia công lắp ráp. Nguyên nhân khiến lợi nhuận năm 2008 suy giảm mạnh bắt nguồn từ chi phí nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm tới 68% - 75% giá thành và áp lực suy thoái kinh tế sau khi gia nhập WTO.

So sánh với các nghiên cứu thương mại mặt hàng thép hay mặt hàng sữa trên cùng địa bàn miền Bắc, ngành da giày có thế mạnh lớn về quy mô 650.000 lao động (chiếm 10,6% lao động công nghiệp cả nước), nhưng lại chịu điểm nghẽn nặng nề về chất lượng nhân lực khi có tới trên 80% công nhân chưa qua đào tạo chính quy. Do thiếu phòng thiết kế chuyên biệt, sản phẩm nội địa chưa theo kịp thị hiếu thời trang, tạo cơ hội cho hàng nhập lậu Trung Quốc giá 120.000 - 240.000 đồng/đôi lấn lướt các sản phẩm nội địa có giá 240.000 - 400.000 đồng/đôi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tối ưu hóa chi phí và điều chỉnh giá bán sản phẩm: Doanh nghiệp cần cơ cấu lại định mức nguyên vật liệu, cắt giảm chi phí trung gian để hạ giá thành từ 15% đến 20%, giúp sản phẩm đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Đặt mục tiêu giảm tỷ trọng chi phí nguyên liệu từ mức 75% xuống dưới 60% giá thành trong giai đoạn 2010 - 2012, do phòng Quản lý Sản xuất và phòng Kế toán phối hợp thực hiện.

Thứ hai, thành lập trung tâm thiết kế mẫu mốt chuyên biệt: Doanh nghiệp cần trích tối thiểu 5% doanh thu hàng năm để đầu tư cho công tác nghiên cứu thị hiếu và thiết kế mẫu mã, đặt mục tiêu phát triển 30 đến 50 mẫu giày mới mỗi quý bắt đầu từ quý 1 năm 2010, do phòng Kỹ thuật - Thiết kế chủ trì triển khai.

Thứ ba, mở rộng và hiện đại hóa mạng lưới phân phối: Doanh nghiệp cần phát triển hệ thống đại lý showroom tại 100% các đô thị trọng điểm phía Bắc, nâng tỷ trọng doanh thu từ kênh phân phối hiện đại lên mức 40% vào cuối năm 2012, do phòng Marketing và Kinh doanh đảm nhiệm.

Thứ tư, kiến nghị chính sách hỗ trợ từ Nhà nước và Hiệp hội Da giày: Nhà nước cần ưu tiên nguồn vốn ODA và tín dụng hỗ trợ đầu tư các cụm công nghiệp phụ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa nguyên liệu từ 40% lên 60% vào năm 2015; đồng thời tăng cường kiểm soát biên mậu nhằm ngăn chặn hàng giả, hàng lậu trôi nổi trên thị trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, ban lãnh đạo và chuyên viên kế hoạch tại các doanh nghiệp da giày: Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng về quản trị kênh bán hàng trực tiếp kết hợp gián tiếp, giúp doanh nghiệp nâng tỷ trọng thị phần miền Bắc từ mức 39% lên trên 50% và ứng phó với các rào cản phòng vệ thương mại quốc tế như mức thuế 10% từ thị trường xuất khẩu.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương và Hiệp hội Da giày Việt Nam: Cung cấp số liệu thực tế để xây dựng chiến lược nội địa hóa nguồn nguyên liệu đang phụ thuộc 60% đến 80% vào nhập khẩu, đồng thời hoạch định chương trình đào tạo kỹ thuật cho mục tiêu 820.000 lao động vào năm 2010.

Thứ ba, giảng viên và học viên cao học ngành Kinh tế, Thương mại và Quản trị kinh doanh: Tài liệu mang lại case study chi tiết về phân tích tài chính doanh nghiệp quy mô doanh thu trên 100.000 triệu đồng và quy trình khảo sát thị trường tiêu dùng theo địa bàn địa lý.

Thứ tư, các chuyên gia phân tích bán lẻ và tiếp thị thời trang: Nắm bắt bức tranh dịch chuyển kênh phân phối từ truyền thống sang hiện đại với mức tăng trưởng thị phần từ 20% lên 27%, hỗ trợ xây dựng chiến lược tiếp cận khách hàng đô thị hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Thị trường miền Bắc có tiềm năng thương mại đối với sản phẩm giầy da như thế nào? Thị trường miền Bắc sở hữu quy mô 32 triệu dân với mức tiêu thụ bình quân 1,5 đôi giày/người/năm, tạo ra sức cầu rất lớn. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 163.000 đồng/tháng lên 512.000 đồng/tháng đã thúc đẩy mạnh mẽ nhu cầu về giày da chất lượng cao tại các đô thị lớn.

Tại sao doanh nghiệp da giày nội địa mới chỉ chiếm giữ 30% thị phần sân nhà? Doanh nghiệp trong nước tập trung gia công xuất khẩu nên thiếu đầu tư cho hệ thống phân phối nội địa và thiết kế mẫu mã, trong khi nguyên liệu chiếm tới 68% - 75% giá thành. Điều này khiến giá bán nội địa từ 240.000 - 400.000 đồng/đôi khó cạnh tranh với hàng tiểu ngạch giá 120.000 - 240.000 đồng/đôi.

Kênh phân phối nào mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp khảo sát? Kênh phân phối trực tiếp đạt tỷ trọng 50,29% tương đương 60.583,09 triệu đồng trong năm 2009 với mức tăng trưởng 6,42%. Kênh này vượt trội hơn kênh gián tiếp nhờ khả năng kiểm soát giá bán, bảo vệ hình ảnh thương hiệu và tương tác trực tiếp với khách hàng.

Chất lượng nguồn nhân lực ngành da giày hiện nay đối mặt với thách thức gì? Hiện có tới hơn 80% trong tổng số 650.000 công nhân toàn ngành chưa qua đào tạo bài bản, cán bộ quản lý chủ yếu làm trái ngành. Tình trạng thiếu hụt đội ngũ thiết kế mẫu mốt và chuyên gia công nghệ đã cản trở doanh nghiệp gia tăng năng suất và đổi mới sản phẩm.

Giải pháp then chốt để nâng cao giá trị gia tăng của ngành da giày là gì? Giải pháp quan trọng nhất là chủ động nội địa hóa nguồn nguyên phụ liệu đạt mốc 60% và làm chủ khâu thiết kế mẫu mã, giúp ngành thoát khỏi vị thế gia công giá trị thấp để nâng tỷ lệ giá trị gia tăng từ mức 25% - 30% lên trên 50%.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phát triển thương mại ngành hàng tiêu dùng tại thị trường miền Bắc quy mô 32 triệu dân.
  • Đánh giá thực chứng kết quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Đầu tư, Xuất nhập khẩu Da giầy Hà Nội với doanh thu thuần vượt 103.000 triệu đồng và tỷ trọng mặt hàng giầy da chiếm 86%.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn chiến lược gồm sự phụ thuộc tới 60% - 80% vào nguyên liệu nhập khẩu và rào cản từ 80% lực lượng lao động chưa qua đào tạo chính quy.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp giúp hạ giá thành 15% - 20%, chủ động thiết kế mẫu mã và nâng tỷ trọng phân phối hiện đại lên 40%.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ mô hình gia công xuất khẩu sang khai thác thị trường nội địa để phát triển bền vững.

Đóng góp cốt lõi của công trình là xây dựng mô hình phát triển thương mại tích hợp giữa chuỗi giá trị và phân khúc thị trường vùng miền sau biến động áp thuế chống bán phá giá 10% của EU. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2010 đến năm 2015, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh đầu tư công nghệ số hóa kênh phân phối và liên kết đào tạo nhân lực chuyên sâu. Hãy tham khảo toàn văn luận văn để ứng dụng hệ thống giải pháp phát triển thương mại vào chiến lược kinh doanh thực tiễn.