MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những năm gần đây, vấn đề môi trường đang diễn ra ngày càng phức tạp và ảnh hưởng mạnh đến tự nhiên và đời sống con người, môi trường trở thành một vấn đề nóng đang được quan tâm trên toàn thế giới. Song hành cùng vấn đề môi trường là biến đổi khí hậu toàn cầu. BĐKH đã và đang tác động tới tài nguyên thiên nhiên, môi trường tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống con người, đặc biệt là cộng đồng dân cư nghèo, đe dọa đến sự tồn vong của loài người trong tương lai.
Đánh giá tác động của BĐKH và nghiên cứu đưa ra các giải pháp ứng phó với BĐKH nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH đến môi trường tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội là một việc làm cấp bách cần thực hiện. Việt Nam đang là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BĐKH toàn cầu. Hầu hết các tỉnh trên lãnh thổ nước ta đều chịu ảnh hưởng của BĐKH. Ảnh hưởng của BĐKH gây ra rõ rệt nhất đối với vùng đồng bằng, đặc biệt là vùng đồng bằng ven biển với biểu hiện nước biển dâng dẫn đến mất đất đai, đa dạng sinh học, chất lượng nước thay đổi,.
Tuy nhiên các tỉnh miền núi cũng chịu tác động không nhỏ của BĐKH. Sự thay đổi lượng mưa, nhiệt độ làm thiếu nước ở vùng núi cao, mưa nhiều vào mùa mưa làm gia tăng hiện tượng lũ quét, sạt lở đất gây thiệt hại người và của. Hiện nay những công trình nghiên cứu về BĐKH tại các vùng núi còn ít, trong khi các cộng đồng nghèo đang chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH. Bộ tài nguyên và môi trường tổng kết: Khoảng mười năm trở lại đây, Việt Nam đã phải gánh chịu tác động lớn của BĐKH, bằng chứng là các hiện tượng thời tiết cực đoan: Thiên tai liên tục xảy ra, gia tăng về cường độ, quy mô và mức độ, gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
Tính riêng 2006, thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên đến 1,2 tỉ USD. Thiên tai năm 2015 đã làm 154 người c 2 chết, 127 người bị thương, 1.242 nhà bị đổ, sập, trôi, 35.233 nhà bị ngập, hư hỏng, hơn 445.00 ha diện tích lúa hoa màu bị thiệt hại, ước tổng thiệt hại khoảng 8. Trong 5 năm 2011-2015 thiên tai đã khiến 1.128 người chết và mất tích (trung bình mỗi năm có 226 người chết và mất tích). Thiệt hại về vật chất trung bình mỗi năm 13.
Thái nguyên tuy không chịu sự tác động mạnh mẽ của BĐKH như các tỉnh ven biển nhưng vẫn có biểu hiện rõ rệt thông qua sự tăng nhiệt độ và biến động của lượng mưa. Theo số liệu khảo sát về nhiệt độ và lượng mưa quan trắc giai đoạn từ 1960 - 2010 tại Trạm Thái Nguyên cho rằng: Xu thế nhiệt độ trung bình năm tăng nhanh một cách rõ rệt trong vòng 50 năm qua, giai đoạn từ 1990 - 2010 là giai đoạn có tốc độ tăng nhanh nhất. Trung bình nhiệt độ tăng 0,08 0 C/ thập kỷ. Xét theo mùa nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè, xu thế mùa xuân và mùa thu ít biến động hơn.
Do có địa hình đặc biệt đón gió mùa tây nam nên Thái Nguyên là một tỉnh có lượng mưa khá lớn, luôn dao động từ 1500 đến 2500 mm/năm, mùa mưa rơi vào tháng 5 đến tháng 10 hàng năm. Nhưng lượng mưa trong những năm gần đây có xu hướng giảm đi một cách rất rõ, trước những năm 1980 lượng mưa năm tại Thái Nguyên luôn ở mức lớn, hầu hết đều trên 1500 mm/năm. Sau những năm 1980 lượng mưa sụt giảm một cách rất lớn trung bình từ giảm từ 10 - 17 mm/năm, nhiều năm lượng mưa không đạt 1000 mm, đặc biệt các năm 1997, 1998 là những năm có lượng mưa thấp kỷ lục dưới 800 mm ở vùng đồng bằng. Nguyên nhân của hiện tượng giảm mưa này có lẽ liên quan đến hoạt động của hiện tượng El Nino mạnh nhất thế kỷ 20 [25].
Xã Minh Tiến mang đă ̣c điể m điạ hin ̀ h của xã trung du miề n núi phiá bắ c , đươ ̣c thiên nhiên ưu đãi về khí hâ ̣u, điạ hình. Minh Tiến có điều kiệ n thuâ ̣n lơ ̣i cho phát triển cây chè trong đó diện tích trồng chè khoảng 203 ha, cây chè là cây sinh kế, cây thoát nghèo của người dân. Ngoài các đặc điểm khó khăn về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, là nơi sinh sống của 6 dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Sán c 3 Chí, Thái và hộ nghèo chiếm tỉ lệ cao, hiểu biết và nhận thức của người dân về BĐKH còn hạn chế. Xuất phát từ thực tiễn trên, nhằm mực đích hỗ trợ người dân phát triển sản xuất chè trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất chè trong xu thế biến đổi khí hậu của nông hộ trên địa bàn xã Minh Tiến, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.
Mục tiêu, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng sản xuất chè ở xã Minh Tiến trong xu thế biến đổi khí hậu, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè thích ứng với BĐKH, đưa chè thực sự trở thành cây trồng có thế mạnh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người dân địa phương. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu được điều kiện tự nhiên - kinh tế, xã hội của xã Minh Tiến. - Xác định được diễn biến và xu thế BĐKH tại Thái Nguyên.
- Đánh giá được thực trạng sản xuất chè tại xã Minh Tiến. - Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển chè trong điều kiện biến đổi khí hậu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu - Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế.
- Nghiên cứu đề tài nhằm nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế. c 4 - Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo đánh giá thực trạng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè trên địa bàn xã. - Phân tích được diễn biến và xu thế BĐKH trên địa bàn và nắm được hiểu biết của người dân về BĐKH, từ đó đề ra các giải pháp góp phần phát triển sản xuất chè thích ứng với BĐKH trên địa bàn xã Minh Tiến nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung.
c 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lí luận của đề tài 2. Biến đổi khí hậu 2. Khái niệm BĐKH Quan niệm của Alixop về khí hậu: “ khí hậu của một nơi nào đó là chế độ thời tiết đặc trưng về phương diện nhiều năm, được tạo nên bởi bức xạ mặt trời, đặc tính của mặt đệm về hoàn lưu khí hậu”[13] Theo định nghĩa của công ước khung Liên Hiệp Quốc: “BĐKH là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khoảng thời gian so sánh được”[15] Theo Ủy ban liên chính phủ về BĐKH: “BĐKH là sự biến động trạng thái trung bình của khí quyển toàn cầu hay khu vực theo thời gian từ vài thập kỷ đến đến hàng triệu năm (IPCC, 2007) những biến đổi này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và có tác động từ các hoạt động của con người”[16] “BĐKH là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hằng triệu năm.
Sự biến đổi có thể là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình”[16] “BĐKH là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi, hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”[14] Những biến động này được gây ra do quá trình động lực của trái đất, bức xạ mặt trời, và gần đây có thêm hoạt động của con người. BĐKH trong thời gian thế c 6 kỷ XX đến nay được gây ra chủ yếu do con người, do vậy thuật ngữ BĐKH (hoặc còn được gọi là sự ấm lên toàn cầu Global - warming) được coi là đồng nghĩa với BĐKH hiện đại. Nguyên nhân BĐKH Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6.[17] - CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển.
CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép. - CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than. - N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp. - HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy Ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.