MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đói nghèo là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia. Người nghèo thường không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội như việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thông tin, v.v…và điều đó khiến cho họ ít có cơ hội thoát nghèo. Do vậy,mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực cho người nghèo là phương thức tốt nhất để giảm nghèo bền vững.
Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định.
Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo. Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp.
Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình h 2 trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo. Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều.
Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn chế.
Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ nghèo vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội. Trong những năm gần đây xã Vĩnh Tiến – huyện Kim Bôi – tỉnh Hòa Bình đã áp dụng nhiều các giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đã đạt được những thành tựu nhất định. Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ rệt, đời sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ kinh tế hộ nghèo của toàn xã giảm năm 2016 là 33,23% đến năm 20118 xuống còn 22,05%. Kết quả giảm nghèo tuy đạt được những mục tiêu đề ra nhưng chưa thật sự bền vững.
Tỷ lệ hộ cận nghèo, tư tưởng trông chờ, ỷ lại không muốn thoát nghèo còn diên ra phổ biến ở một bộ phận người dân, chênh lệch người nghèo giữa các vùng và giữa các đối tượng còn lớn, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao. Vấn đề cấp thiết cần được đề ra là phân tích, đánh giá nghèo một cách đúng đắn, từ đó đưa ra các giải pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế các điểm yếu, nhằm đưa xã Vĩnh Tiến thoát nghèo bền vững có hiệu quả. Xuất phát từ thực tiễn đó,tôi thực hiện đề tài“Giải pháp phát triển kinh tế cho hộ h 3 nghèo tại xã Vĩnh Tiến,huyện Kim Bôi,tỉnh Hòa Bình ” Để đưa ra một số giải pháp trên cơ sở những thuận lợi khó khăn của chương trình XĐGN nhằm đưa hộ nghèo đi lên và ổn định đời sống tự vươn lên thoát nghèo 1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1.1 Mục tiêu chung Xác định những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế của hộ nghèo nói riêng và người dân trong vùng nói chung, tìm ra nguyên nhân dẫn đến nghèo và tái nghèo là gì? Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế cho hộ nghèo tại xã Vĩnh Tiến,huyện Kim Bôi,tỉnh Hòa Bình. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng kinh tế hộ nghèo và tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo của xã Vĩnh Tiến.
- Đanh giá các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế của các hộ nghèo trong địa bàn của xã Vĩnh Tiến và đề xuất các giải pháp để phát triền kinh tế cho các hộ nhằm thoát nghèo. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Đề tài được thực hiện là cơ sở giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học, vận dụng các kiến thức lý thuyết áp dụng vào thực tế. Đây là bước đầu giúp sinh viên tiếp cận với thực tế sản xuất và giúp tích lũy kinh nghiệm phục vụ cho công việc sau này.
-Bổ xung kiến thức về đói nghèo đã đc học lý thuyết trong nhà trường. -Đề tài cũng là tài liệu tham khảo cho nhà Trường, Khoa và các sinh viên khóa sau. Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài có thể là cơ sở để có những định hướng giải pháp nhằm góp phần XĐGN cho hộ địa phương. h 4 - Đối vơi công tác XĐGN của xã, thông qua thực trạng nghèo đói và những cái chưa đạt được trong công tác XĐGN đề tài giúp cho ban chỉ đạo chương trình có được những giải pháp cụ thể thiết thực hơn nhằm nâng cao hiệu quả của công tác XĐGN.
h 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2.1 Khái niệm nghèo Có nhiều khái niệm về nghèo đói của các tổ chức và quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như theo thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trưng khác nhau của nghèo đói. Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và các nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối hiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định” Tại hội nghi về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [1] Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội Tổ chức tại Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hang đầu của tổ chức lao động quốc tế (ILO) ông Abaplaen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng: h 6 “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”. Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng sự khác nhau để phân biệt giữa họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống và thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn người nghèo. Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở mức độ cá nhân và cộng đồng. Nghèo, đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống.
Đó là những hộ thiếu ăn từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng. Đói là thang thấp nhất của nghèo, đói thuần túy là đói ăn, đói nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần. Đói cũng có hai dạng là đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt) : - Đói kinh niên là đói từ đời này sang đời khác, là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền cho tới thời điểm đang xét. - Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.
Qua đây có thể thấy được các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: - Không được hưởng những nhu cầu cơ bản nhất ở mức độ tối thiểu dành cho con người. - Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. - Thiếu cơ hội lưa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD.