chương 1: Du lịch sinh thái một loại hình du lịch mang lại vô vàn những sự trải nghiệm mới lạ cho du khách, giúp con người hòa mình với thiên 9|TRANG Tieu luan TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH nhiên, cây cỏ, những nét hoang sơ mộc mạc của hệ sinh thái tự nhiên với đa dạng các loại hình du lịch sinh thái khác nhau, tạo nhiều điều kiện để gắn kết con người với nhau và giữa con người với thiên nhiên, vừa tạo sự cân bằng cho các hoạt động du lịch khác bởi tính giáo dục ý thức môi trường trong loại hình du lịch này vừa tạo sự kích thích tìm tòi học hỏi nghiên cứu về thế giới tự nhiên qua đó mang lại nhiều giá trị lợi ích cốt lõi cho cộng đồng, đặc biệt nhất là mục đích giúp con người hiểu và duy trì lâu dài hiện trạng của tự nhiên. 10 | T R A N G Tieu luan TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG 2.1 Giới thiệu Vườn Quốc gia U Minh Thượng 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển Vườn quốc gia U Minh Thượng là một vườn quốc gia được bao bọc bởi hệ thống đê bao khép kín có chiều dài 60km tọa lạc tại các xã như An Minh Bắc, Minh Thuận Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang miền Nam Việt Nam, được nâng cấp từ khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng lên thành vườn quốc gia theo Quyết định số 11/2002/QĐ-TTG ngày 14 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ, theo quyết định này vườn quốc gia U Minh Thượng thuộc sự quản lí của UBND tỉnh Kiên Giang. Ban đầu vườn quốc gia U Minh Thượng được thành lập theo quyết định của chính phủ Việt Nam vào năm 1993. Năm 1994, Khu bảo tồn thiên nhiên U Minh Thượng và Hội đồng quản lý khu di tích Lịch sử đã được thành lập để giám sát về tổ chức khu vực và quản lí nguồn kinh phí của Chính Phủ.
VQG U Minh Thượng thuộc loại rừng đặc thù với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ngập nước thuộc loại hiếm trên thế giới. Tiền thân của rừng U Minh Thượng là rừng úng phèn U Minh còn được gọi là “Hồ rừng”. 1 Vườn quốc gia U Minh Thượng 11 | T R A N G Tieu luan TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH Cũng theo Quyết định số 11/2002/QĐ-TTG ngày 14 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ thì diện tích của rừng Quốc gia U Minh Thượng là 21.107 ha trong đó bao gồm vùng lõi là 8.038 ha và vùng đệm là 13.069 ha Năm 2007, VQG U Minh Thượng được UNESCO công nhận là một khu vực quan trọng thuộc Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang. Theo định hướng, VQG U Minh Thượng ngày càng được đầu tư, phục vụ cho việc nghiên cứu và bảo tồn các giống, gen quý hiếm, sự đa dạng sinh học gắn với khai thác tiềm năng môi trường sinh thái tự nhiên qua đó kết hợp kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật,.
Triển khai nhiều dự án phát triển du lịch sinh thái với nguồn đầu tư lớn.2 Mục tiêu thành lập: VQG U Minh Thượng sở hữu sự đa dạng sinh học về nhiều loại thực vật, côn trùng, cá, ếch nhái, bò sát, chim, thú trong có một sốt loài được xếp vào hàng sách đỏ Việt Nam. Chính vì điều đó VQG U Minh Thượng được thành lập với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập nước đặc biệt là 8 loài chim nước quan trọng và các loài động vật quý hiếm, bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng tràm úng phèn trên đất than bùn, bảo tồn và tôn tạo di tích lịch sử cấp quốc gia về chiến khu cách mạng U Minh Thượng trong thời kì chiến tranh chống Pháp, Mỹ. Phát triển du lịch sinh thái, đồng thời nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên cho nhân dân. Ngăn chặn, phòng chống cháy rừng với với hệ thống rừng tràm trên đất than bùn và đánh giá khả năng phục hồi tự nhiên của rừng tràm sau cháy.
Giúp tăng độ che phủ của rừng một vấn đề rất quan trọng đối với phát triển các hệ sinh thái tự nhiên một cách bền vững, cân bằng hệ sinh thái, đảm bảo an ninh môi trường, góp phần phát huy hết giá trị của hệ sinh thái nơi đây để phục vụ cho du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học. 12 | T R A N G Tieu luan TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH 2.3 Bộ máy quản lí: VQG U Minh Thượng thuộc sự quản lí của UBND tỉnh Kiên Giang. Đứng đầu là Ban giam đốc, bên cạnh đó là các phòng: 2.1 Phòng quản lí bảo vệ tài nguyên rừng 2.2 Phòng du lịch sinh thái và giáo dục môi trường 2.3 Phòng tổ chức hành chính 2.4 Phòng Nghiên cứu khoa học và môi trường 2.5 Phòng kế hoạch tài chính 2.2 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái: 2.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ: VQG U Minh Thượng thuộc địa phận xã An Minh Bắc và xã Minh Thuận Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang thuộc vùng bán đảo Cà Mau, cách thành phố Rạch Giá khoảng 50km về phía nam. Với tọa độ địa lí: từ 9°31 đến 9°39′ vĩ bắc và từ 105°03′ đến 105°07′ kinh độ đông.
2 Hướng vào Vườn Quốc Gia U Minh Thượng 13 | T R A N G Tieu luan TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH Nơi đây nằm trong vùng ngập nước ngọt, là một trong hai khu vực quan trọng của rừng đầm lầy than bùn còn lại ở Việt Nam. Với diện tích vùng đệm trên 13.000 ha và vùng lõi hơn 8. VQG U Minh Thượng được bảo tồn nghiêm ngặt bởi sở hữu một hệ sinh thái động thực vật đa dạng và phong phú, là khu bảo vệ có tính đa dạng sinh học cao nhất vùng ĐBSCL với khoảng 387 loài thực vật, 172 loại côn trùng, 66 loại cá, 7 loại ếch nhái, 31 loại bò sát, 32 loài thú và 172 loài chim.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên VQG U Minh Thượng cuốn hút rất nhiều du khách đến tham quan và cả hoài niệm về những giai đoạn lịch sử dân tộc bởi vẻ đẹp hùng vĩ hoang sơ gợi cho du khách một khám giác mới lạ như tìm về với cội nguồn thiên nhiên. Với hệ thống động thực vật tại đây vô cùng đa dạng, phong phú bên cạnh cây tràm bản địa, tại đây còn có hơn 243 loài thực vật có mạch bậc cao, trong đó có nhiều loại cây thân gỗ, cao, to như: Bùi, Mốp, Dấu, Trâm, Gáo,… Bên cạnh đó là sự hiện diện của khoảng hơn 172 loại côn trùng, 66 loại cá, 7 loại ếch nhái, 31 loại bò sát, 32 loài thú và 172 loài chim.
Nơi đây sở hữu nhiều loài động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới như: Rái cá lông mũi, Mèo cá, Bồ nông chân xám, Già đẫy Java,… Hình 2. 3 Tê tê tại VQG U Minh Thượng 14 | T R A N G Tieu luan TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH Hình 2.1 Tài nguyên sinh vật: VQG U Minh Thượng là nơi duy nhất trong hệ sinh thái rừng úng phèn của ĐBSCL có hệ thực vật rừng của vùng lõi có đặc điểm của rừng cực đỉnh nguyên sinh. Có các ưu hợp rừng tràm hỗn giao và rừng tràm trên đất than bùn, với diện tích gần 3.000 ha, bên cạnh đó trên than bùn còn giữ lại những cảnh quan tự nhiên của rừng U Minh xưa với những cây tràm cổ thụ và dòng nước đỏ vùng U Minh. Là một trong hai khu vực quan trọng nhất của rừng đầm lầy than bùn còn lại ở Việt Nam – khu vực còn lại chính là U Minh Hạ.
Nơi đây là nơi nuôi dưỡng trú ngụ của hàng trăm loài động vật hoang dã, bao gồm cả chim, thú, bò sát, lưỡng cư, cá, côn trùng và nhiều loài thủy sinh vật phân bố ở các độ sâu khác nhau trong hệ sinh thái. Hệ thực vật: Hệ thống động thực vật tại VQG U Minh Thượng rất đa dạng và phong phú đặc trưng của kiểu rừng ngập mặn. Nổi bật nhất là cây tràm bản địa, ngoài ra còn có hơn 250 loại thực vật có mạch bậc cao thuộc 84 họ, trong đó có nhiều loài cây thân gỗ cao, to như: Bùi, Mốp, Dấu, Trâm, Gáo,… Một số loài thực vật ngập mặn đặc trưng như Sú, Trang, Đước vòi, Vẹt dù. Ở đây thì Sú được coi là loài cây ngập mặn tiên phong trong quá trình lấn biển.
Ngoài ra còn có các loài khác như Cóc đỏ, Ô rô nước, Tra làm chiếu, Su ổi, Hếp,…Trong đó có 8 loài thực vật quý hiếm như: mốp, năng chồi, lá U Minh, bèo tản nhọn, nắp bình, mật cật, bí kỳ nam, luân lan. 15 | T R A N G Tieu luan TIỂU LUẬN KINH TẾ DU LỊCH Hình 2. 5 Hệ thực vật tại VQG U Minh Thượng Theo dữ liệu khảo sát từ kiểm kê rừng từ những lúc mới thành lập đến nay, khu bảo tồn sinh học U Minh Thượng sở hữu tới 8.053 ha rừng nguyên sinh, trong đó có 3.000 ha rừng nguyên sinh được hình thành từ khoảng 6.000 năm trước với độ dày từ 0. VQG U Minh Thượng là khu vực đồng bằng, dải đất ven biển nên độ phong phú cao thuộc những họ thích hợp với hệ sinh thái đồng bằng, đất chua phèn, than bùn, chịu ngập nước tốt như: họ cúc, họ cỏ, họ cói và một số loại rừng ngập mặn như: họ Đước, họ cỏ roi ngựa, chi Mắm.