CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất sắn 1. Một số khái niệm về sản xuất và phát triển kinh tế - Khái niệm sản xuất: Liên Hiệp Quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tài sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác. Tất cả những hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền.
- Khái niệm phát triển: Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội (Raanan Weitz, 1995). - Khái niệm phát triển kinh tế: Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia [2]. - Khái niệm phát triển kinh tế bền vững: Theo Ngân hàng Thế giới (WB), 1987 khái niệm phát triển bền vững được đề cập đến lần đầu tiên đó là “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất sắn Sắn là cây trồng quen thuộc với hầu hết nông dân Việt Nam, nhất là đối với nông dân vùng trung du miền núi. Cây sắn dễ trồng thích ứng với đất đai và điều kiện tự nhiên khí hậu của vùng. Trong những năm gần đây, cây sắn đã n 5 trở thành cây nguyên liệu có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của địa phương. Cây sắn đã giúp nhiều địa phương xóa đói giảm nghèo.
Cây sắn đã và đang mang lại cho bà con nông dân xã Vĩnh Kiên huyện Yên Bình một nguồn thu nhập đáng kể. Đối với nông dân Việt Nam hiện nay thu nhập của họ chủ yếu từ những cây trồng vật nuôi phù hợp và dễ phát triển trên vùng đất của mình. Phát triển sản xuất chế biến tinh bột sắn với mong muốn đưa cây sắn của vùng vượt lên ý nghĩa của loại cây xóa đói giảm nghèo để có thể làm giàu. Không chỉ vì những lợi ích trước mắt mà cần quan tâm đến đầu tư theo chiều sâu.
Phát triển vùng nguyên liệu sắn, đầu tư nhiều hơn cho các cơ sở sản xuất tại địa phương. Cơ sở lý luận về chế biến tinh bột sắn ướt - Tinh bột: Tiếng Hy Lạp là amidon (CAS# 9005-25-8, công thức hóa học: (C6H10O5)n) là một polysacarit carbohydrates chứa hỗn hợp amylose và amylopectin. Tỷ lệ phần trăm amilose và amilopectin thay đổi tùy thuộc vào từng loại tinh bột, tỷ lệ này thường từ 20:80 đến 30:70. Tinh bột có nguồn gốc từ các loại cây khác nhau có tính chất vật lí và thành phần hóa học khác nhau.
Chúng đều là các polymer carbohydrat phức tạp của glucose (công thức phân tử là C6H12O6). Tinh bột được thực vật tạo ra trong tự nhiên trong các quả, củ như: ngũ cốc. Tinh bột, cùng với protein và chất béo là một thành phần quan trọng bậc nhất trong chế độ dinh dưỡng của loài người cũng như nhiều loài động vật khác. Ngoài sử dụng làm thực phẩm ra, tinh bột còn được dùng trong công nghiệp sản xuất giấy, rượu, băng bó xương.
Tinh bột được tách ra từ hạt như ngô và lúa mì, từ rễ và củ như sắn, khoai tây, dong là những loại tinh bột chính dùng trong công nghiệp [12]. Tinh bột sắn: Là sản phẩm công nghiệp chính của sắn. Tuy tinh bột sắn có tính chất siêu việt của vị nhạt nhưng nó vẫn được sử dụng nhiều trong thực phẩm. Phương thức nấu thông thường vẫn tồn tại khuyết điểm của bột sắn và tinh bột chính là tính dính của chúng khi nấu.
Tính dính này có thể giảm đi nhờ các liên kết chéo giữa các phân tử tinh bột sắn dẫn đến việc làm bền vững các hạt sắn. Các phương pháp gây biến thì khác nhau với mục đích làm bền vững các hạt sắn đã giúp cải thiện các tính chất của tinh bột. Nếu các tác nhân n 6 gây biến tính tinh bột sắn có giá trị dinh dưỡng, thì sản phẩm cuối cùng cũng được tăng cường về mặt dinh dưỡng. Tinh bột hồ hóa trước sự biến tính thích hợp có thể sử dụng trong thực phẩm dành cho trẻ em hay các loại thực phẩm khác [11].
Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng.
Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế [4]. Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hóa và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác. Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là một phương án đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư. Từ khái niệm chung đó, cần xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế, đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất.
Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên. Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể ở một giai đoạn nhất định. Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo n 7 tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau.
Mặt khác, tùy theo nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả của xí nghiệp. Vì vậy, nhu cầu thì đa dạng, thay đổi theo thời gian và tùy thuộc vào trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất… Mặt khác, nhu cầu cũng gồm nhiều loại: nhu cầu tối thiểu, nhu cầu có khả năng thanh toán và nhu cầu theo ước muốn chung. Có thể coi thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay. Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh gái hiệu quả kinh tế là khả năng thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh.
Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra. Đối với cây chè tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế ta phải đứng trên góc độ hoạch toán kinh tế, tính toán các chi phi, các yếu tố đầu vào, đồng thời tính toán được đầu ra từ đó. Xác định mối tương quan kết quả giữa đầu vào bỏ ra và kết quả đạt được đó chính là lợi nhuận. Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất 1.
Tình hình sản xuất sắn trên thế giới Theo thống kê của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2011), hiện nay trên toàn thế giới có 100 quốc gia trồng sắn với tổng diện tích đạt 19,64 triệu ha, năng suất củ tươi bình quân 12,83 tấn/ha, sản lượng 252,20 triệu tấn. Sắn cây trồng 4F của thế kỷ 21. Sắn là cây lương thực (Food) có sản lượng 252,20 triệu tấn) đứng hàng thứ năm sau ngô (883,46 triệu tấn), lúa gạo (722,76 triệu tấn), lúa mì (704,08 triệu tấn) khoai tây (374,38 triệu tấn). Sắn được trồng 66% ở châu Phi, 20% ở châu Á, 14% ở châu Mỹ Latinh.
Sắn là n 8 thức ăn của hơn một tỷ người trên thế giới, đặc biệt là châu Phi nơi sắn làm lương thực thực phẩm chính. Sắn là cây thức ăn gia súc (Feed), cây chế biến tinh bột (Flour) làm bột ngọt, mì ăn liền, bánh kẹo, siro, nước giải khát, bao bì, ván ép, phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học, chất giữ ẩm cho đất và hiện nay sắn là cây nguyên liệu chính để chế biến nhiên liệu sinh học (Fuel) có lợi thế cạnh tranh cao. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới từ năm 2007 – 2012 Diện tích sắn Sản lượng sắn Năng suất sắn Năm (Triệu ha) (Triệu tấn) (Tấn/ha) 2007 18,42 226,30 12,28 2008 18,39 232,14 12,62 2009 18,76 234,55 12,51 2010 18,46 229,54 12,43 2011 19,64 252,20 12,84 2012 20,38 262,59 12,88 (Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, 2007 – 2012) Sản xuất sắn trên thế giới. Châu Phi là khu vực dẫn đầu sản lượng sắn toàn cầu đến năm 2011 đạt 140,97 triệu tấn, chiếm 55,90% sản lượng sắn thế giới 252,20 triệu tấn.
Trong đó, đứng đầu châu lục này là Nigeria với sản lượng đạt 52,40 triệu tấn năm 2011. Châu Á chiếm 30% sản lượng sắn thế giới với diện tích 3,91 triệu ha, năng suất bình quân 19,60 tấn/ha và sản lượng đạt 76,68 triệu tấn.