Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp phát triển chế biến tinh bột sắn ướt tại xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái" do sinh viên Nông Thị Trưng thực hiện năm 2014 thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Dương Văn Sơn.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Theo lập luận của tác giả, nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội, trong đó ngành sản xuất lương thực giữ vị trí quyết định đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cây sắn tại Việt Nam đang có sự chuyển đổi nhanh chóng từ loại cây lương thực cứu đói truyền thống sang cây công nghiệp giá trị cao. Các sản phẩm chế biến từ sắn (sắn lát, sắn viên, tinh bột sắn) ngày càng mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa lẫn xuất khẩu, đóng vai trò nguyên liệu then chốt cho nhiều ngành công nghiệp như dệt may, sản xuất giấy, chất kết dính, dược phẩm, cồn sinh học và công nghệ thực phẩm.

Tại địa bàn xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái – một xã miền núi có địa hình trung du phức tạp và diện tích đất canh tác bình quân đầu người hạn hẹp – cây sắn từ lâu đã trở thành cây trồng mũi nhọn giúp các hộ nông dân xóa đói giảm nghèo và tạo nguồn thu nhập tiền mặt ổn định. Cùng với việc mở rộng diện tích trồng trọt, một số hộ dân địa phương đã tiếp thu kỹ thuật chế biến từ các làng nghề truyền thống phía Bắc để thành lập các cơ sở chế biến tinh bột sắn ướt quy mô nhỏ và vừa. Tuy nhiên, hoạt động chế biến tại đây vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về tính tự phát, quy mô chưa đồng đều, kỹ thuật chế biến còn phân tán, áp lực ô nhiễm môi trường do chất thải chưa qua xử lý và sự phụ thuộc vào thương lái trung gian. Việc nghiên cứu thực trạng sản xuất, hạch toán chi phí và đánh giá hiệu quả kinh tế của chuỗi chế biến tinh bột sắn ướt tại xã Vĩnh Kiên là cơ sở thực tiễn cần thiết để đề xuất các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của nông sản địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài xác định hệ thống mục tiêu theo cấu trúc văn bản gồm:

  1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng sản xuất, chế biến tinh bột sắn ướt tại xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái làm cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển chế biến tinh bột sắn ướt một cách hiệu quả và bền vững.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Vĩnh Kiên tác động đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
    • Đánh giá thực trạng chế biến tinh bột sắn ướt trên địa bàn nghiên cứu qua giai đoạn 2011 – 2013.
    • Phân tích hiệu quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của hoạt động chế biến tinh bột sắn ướt theo các nhóm công suất và loại hình công nghệ.
    • Đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phát triển hoạt động chế biến tinh bột sắn ướt tại địa phương trong những năm tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề kinh tế - kỹ thuật liên quan đến hoạt động chế biến tinh bột sắn ướt và tình hình sản xuất kinh doanh của các cơ sở chế biến tinh bột sắn ướt trên địa bàn xã Vĩnh Kiên.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung phân tích hiện trạng sản xuất, chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào, quy trình chế biến, hạch toán chi phí - doanh thu - lợi nhuận và thị trường tiêu thụ sản phẩm tinh bột sắn ướt cùng các phụ phẩm.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp phản ánh thực trạng sản xuất kinh doanh trong giai đoạn 3 năm từ 2011 đến 2013. Thời gian tác giả thực hiện khảo sát, thu thập thông tin tại thực địa diễn ra từ ngày 31/12/2013 đến ngày 13/04/2014.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận kinh tế nông nghiệp và khoa học chế biến nông sản, bao gồm các khái niệm và căn cứ khoa học:

  • Khái niệm sản xuất: Áp dụng định nghĩa của Liên Hiệp Quốc trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), xem sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế nhằm chuyển hóa các chi phí vật chất và dịch vụ thành sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ mới có khả năng cung cấp, trao đổi trên thị trường.
  • Khái niệm phát triển và phát triển bền vững: Trích dẫn quan điểm của Raanan Weitz (1995) về phát triển như một tiến trình biến đổi liên tục nhằm nâng cao mức sống con người và phân phối công bằng thành quả kinh tế; định nghĩa phát triển bền vững của Ngân hàng Thế giới (WB, 1987) về sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
  • Lý luận về hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá: Hiệu quả kinh tế được tiếp cận là phạm trù phản ánh tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được và lượng chi phí nguồn lực đã bỏ ra. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ sở sản xuất kinh doanh nông thôn được xác định dựa trên mức thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí đầu tư hoặc công lao động, thông qua các chỉ tiêu cụ thể: tổng chi phí, doanh thu, lợi nhuận ròng và tỷ suất sinh lời.
  • Đặc tính kỹ thuật của tinh bột sắn: Tinh bột (tên gốc Hy Lạp: amidon, mã số CAS# 9005-25-8, công thức phân tử $(C_6H_{10}O_5)n$) là polysacarit chứa hỗn hợp amylose và amylopectin theo tỷ lệ dao động từ 20:80 đến 30:70, cấu tạo từ các đơn vị glucose ($C_6H{12}O_6$). Tác giả phân tích cơ sở chuyển đổi lý tính của tinh bột sắn trong quá trình hồ hóa, phá vỡ liên kết và ứng dụng sản phẩm tinh bột ướt trong công nghệ thực phẩm và công nghiệp biến tính.

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong kinh tế học nông nghiệp:

  • Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Lựa chọn xã Vĩnh Kiên mang tính đại diện cho vùng trung du miền núi phía Bắc có sự phát triển đan xen giữa canh tác sắn đồi rừng và nghề chế biến tinh bột ướt gia đình.
  • Phương pháp chọn mẫu điều tra: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi ngẫu nhiên. Trong tổng số 10 cơ sở chế biến tinh bột sắn ướt đang hoạt động tại xã, tác giả chọn điều tra chuyên sâu 7 cơ sở (chiếm tỷ lệ 70%). Mẫu điều tra đảm bảo tính đại diện về không gian địa lý (phân bố tại các thôn khác nhau), quy mô công suất (từ 8 đến 25 tấn củ tươi/ngày) và loại hình trang bị công nghệ nghiền (máy thớt đứng nghiền 3 sàng, máy 2 thớt nghiền và máy ngang thớt nghiền; hệ thống thùng khuấy riêng hoặc khuấy chung).
  • Phương pháp thu thập thông tin:
    • Nguồn số liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ giai đoạn 2011 – 2013 của UBND xã Vĩnh Kiên, báo cáo quy hoạch xây dựng nông thôn mới của địa phương, số liệu thống kê ngành nông nghiệp huyện Yên Bình, niên giám Tổng cục Thống kê và cơ sở dữ liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO).
    • Nguồn số liệu sơ cấp: Thu thập thông qua phiếu phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp 7 chủ cơ sở sản xuất; phương pháp phỏng vấn sâu về hạch toán chi phí chi tiết (củ tươi, nhân công, giá điện, khấu hao, hao hụt); phương pháp quan sát trực tiếp và đo đếm thông số kỹ thuật (thời gian lắng, tỷ lệ thu hồi bột, vận hành máy móc).
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê kinh tế (phân tổ theo nhóm công suất và phân tổ theo công nghệ chế biến), phương pháp so sánh tương đối - tuyệt đối, số bình quân. Dữ liệu khảo sát được mã hóa và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất, chế biến sắn

Chương này hệ thống hóa các quan điểm kinh tế về sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phân tích vai trò cây sắn như một cây trồng "4F" của thế kỷ 21 (Food - Lương thực, Feed - Thức ăn gia súc, Flour - Tinh bột, Fuel - Nhiên liệu sinh học).

Bảng tổng hợp: Tình hình sản xuất sắn toàn cầu giai đoạn 2007 – 2012 (Nguồn: FAO)

Năm Diện tích (Triệu ha) Năng suất (Tấn/ha) Sản lượng (Triệu tấn)
2007 18,42 12,28 226,30
2008 18,39 12,62 232,14
2009 18,76 12,51 234,55
2010 18,46 12,43 229,54
2011 19,64 12,84 252,20
2012 20,38 12,88 262,59

Theo báo cáo FAO năm 2011, Châu Phi chiếm 66% diện tích và 55,90% sản lượng sắn toàn cầu (đạt 140,97 triệu tấn), trong đó Nigeria dẫn đầu với 52,40 triệu tấn (năm 2012 đạt 54,00 triệu tấn). Châu Á chiếm 20% diện tích và 30% sản lượng sắn thế giới nhưng có năng suất bình quân cao nhất (19,60 tấn/ha năm 2011, sản lượng 76,68 triệu tấn). Việt Nam xếp thứ 9 trong top 10 quốc gia sản xuất sắn lớn nhất thế giới năm 2012 với sản lượng 9,74 triệu tấn, đồng thời là quốc gia xuất khẩu sắn và sản phẩm sắn lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan.

Bảng tổng hợp: Diễn biến sản xuất sắn tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2012 (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Năm Diện tích (Nghìn ha) Năng suất (Tấn/ha) Sản lượng (Nghìn tấn)
2007 495,5 16,534 8.192,8
2008 554,0 16,805 9.309,9
2009 507,8 16,799 8.530,5
2010 498,0 17,260 8.595,6
2011 558,4 17,725 9.897,9
2012 550,6 17,700 9.745,5

Tại Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu sắn đã vượt mốc 1 tỷ USD/năm; lượng tinh bột sắn xuất khẩu năm 2012 đạt 1,8576 triệu tấn và năm 2013 đạt 1,5432 triệu tấn, xuất sang các thị trường trọng điểm gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và Philippines.

Tác giả cũng khảo cứu mô hình làng nghề chế biến tinh bột ướt truyền thống quy mô nhỏ tại huyện Hoài Đức (Hà Nội) gồm 3 xã Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai. Năm 2011, cụm làng nghề này có 1.140 cơ sở chế biến nông sản, trong đó có 345 cơ sở chế biến tinh bột sắn ướt (Dương Liễu tập trung 300 cơ sở, chiếm 86,96%; Cát Quế có 25 cơ sở; Minh Khai có 20 cơ sở). Tại tỉnh Yên Bái, diện tích trồng sắn năm 2012 đạt 15.292 ha (huyện Văn Yên 6.476 ha, huyện Yên Bình 3.364 ha), năng suất 185 tạ/ha. Tỉnh có 3 nhà máy chế biến tinh bột sắn công nghiệp lớn với tổng công suất tiêu thụ 1.600 tấn củ tươi/ngày (tương đương 400 tấn sản phẩm/ngày), năm 2012 sản xuất 34.388 tấn tinh bột khô, đạt doanh thu 300 tỷ đồng và đóng góp ngân sách 30 tỷ đồng.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết quy trình thiết kế công cụ nghiên cứu, bảng câu hỏi điều tra và phương thức tiếp cận thực địa tại xã Vĩnh Kiên. Thiết kế điều tra tập trung vào 7 cơ sở đại diện được phân thành 3 nhóm công suất:

  • Nhóm công suất cao: từ 19 đến 25 tấn củ tươi/ngày (3 cơ sở, chiếm 42,86% mẫu điều tra).
  • Nhóm công suất trung bình: từ 13 đến 18 tấn củ tươi/ngày (2 cơ sở, chiếm 28,57% mẫu điều tra).
  • Nhóm công suất nhỏ: từ 8 đến 12 tấn củ tươi/ngày (2 cơ sở, chiếm 28,57% mẫu điều tra).

Chương 2 cũng thiết lập các chỉ tiêu theo dõi về cơ cấu chi phí sản xuất (chi phí nguyên liệu củ tươi, chi phí nhân công theo công khoán hoặc thời gian, chi phí năng lượng điện), các chỉ tiêu kỹ thuật (hàm lượng tinh bột, tỷ lệ chuyển đổi củ - bột ướt) và kênh lưu thông phụ phẩm (bã sắn, nước thải, tinh bột đen, vỏ củ).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích thực nghiệm tại địa bàn:

1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Vĩnh Kiên

Xã Vĩnh Kiên nằm ở phía Đông Nam huyện Yên Bình, giáp các xã Yên Bình, Vũ Linh, Đại Đồng, thị trấn Yên Bình và thị trấn Thác Bà. Tổng diện tích đất tự nhiên là 2.717,73 ha.

Bảng biến động sử dụng đất đai xã Vĩnh Kiên (2011 – 2013)

Nhóm đất Năm 2011 (ha) Cơ cấu 2011 (%) Năm 2013 (ha) Cơ cấu 2013 (%)
Đất nông nghiệp 1.895,74 69,75 1.887,49 69,45
- Đất sản xuất nông nghiệp 635,45 23,38 624,83 22,98
- Đất lâm nghiệp 1.251,56 46,05 1.253,76 46,12
- Đất nuôi trồng thủy sản 8,73 0,32 9,00 0,33
Đất phi nông nghiệp 814,09 29,96 829,20 30,51
- Đất chuyên dùng 104,89 3,86 117,05 4,31
- Đất sông suối, mặt nước 670,37 24,67 671,97 24,73
Đất chưa sử dụng 7,90 0,29 1,19 0,04
Tổng diện tích tự nhiên 2.717,73 100,00 2.717,73 100,00

Dân số năm 2013 của xã là 1.459 hộ với 6.043 nhân khẩu (nam chiếm 50,02%, nữ chiếm 49,98%), mật độ dân số 219 người/$km^2$. Thành phần dân tộc gồm: dân tộc Kinh chiếm 62,1% (906 hộ), dân tộc Cao Lan chiếm 28,9% (421 hộ), dân tộc Dao chiếm 7,4% (113 hộ) và các dân tộc khác chiếm 1,6% (19 hộ). Tổng số lao động là 4.196 người, chiếm gần 70% dân số.

Diện tích trồng sắn của xã giảm liên tục qua 3 năm: từ 275 ha năm 2011 xuống 255 ha năm 2012 và còn 200 ha năm 2013 (giảm 27,27% so với năm 2011) do sự cạnh tranh từ các chương trình trồng rừng, chuyển dịch sang cây hoa màu ngắn ngày (ngô tăng từ 67,5 ha lên 128 ha) và một bộ phận lao động chuyển sang làm thuê tại các đô thị. Tuy nhiên, giá thu mua củ sắn tươi tại ruộng lại tăng đều từ 1.100 đ/kg (2011) lên 1.500 đ/kg (2012) và đạt mức trung bình 1.750 đ/kg (2013).

2. Thực trạng chế biến tinh bột sắn ướt tại Vĩnh Kiên

Nghề chế biến tinh bột sắn ướt du nhập vào xã Vĩnh Kiên từ năm 2002, khởi đầu từ xưởng chế biến của ông Phạm Hải Tài tại thôn Trò, sau khi tiếp thu kỹ thuật từ làng nghề Hoài Đức (Hà Nội). Tính đến năm 2013, toàn xã có 10 cơ sở chế biến thuộc quyền sở hữu của 8 chủ hộ (2 chủ hộ sở hữu 2 cơ sở). Công suất dao động từ 5 đến 30 tấn củ tươi/ngày; bình quân đạt 16,5 tấn củ tươi/ngày.

Khảo sát 7 cơ sở cho thấy: tổng số lao động sử dụng là 75 người (bình quân 10,7 lao động/cơ sở); thời gian hoạt động có tính thời vụ cao, chỉ kéo dài từ 2,5 đến 3,5 tháng/năm (từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 2 năm sau); thời gian vận hành bình quân 9,57 giờ/ngày; tổng công suất chế biến của 7 cơ sở đạt 113 tấn/ngày (bình quân 16,14 tấn/ngày/cơ sở).

Quy trình công nghệ chế biến tinh bột sắn ướt gồm 5 công đoạn liên hoàn:

  1. Tiếp nhận nguyên liệu: Sắn củ tươi vận chuyển bằng xe tải về bãi, phân loại và loại bỏ tạp chất thô.
  2. Rửa và làm sạch: Củ sắn được đưa qua máy bóc vỏ ngoài và máy rửa dạng máng có cánh khuấy phun nước (theo số liệu văn bản, sau rửa 100 kg củ tươi cho khoảng 980 kg sắn sạch - phản ánh tỷ lệ hao hụt tạp chất và vỏ xấp xỉ 2%).
  3. Xay nghiền: Sử dụng các dòng máy nghiền cơ giới có động cơ điện (năng suất 300 - 500 kg/giờ trở lên) thay thế hoàn toàn bàn mài thủ công hoặc máy đạp chân.
  4. Lọc và lắng dịch bột: Sử dụng vải lọc mịn để tách bã, tỷ lệ pha trộn 1 phần cháo bột với 4 phần nước. Dịch bột đưa vào các bể lắng nông, đáy phẳng kéo dài (mỗi cơ sở có từ 4 đến 7 bể lắng) để giảm thời gian lắng. Thời gian lắng tối thiểu 12 giờ (thường để qua đêm), sau đó dùng vòi xả hoặc ống cao su gạn lớp nước mặt và thu hồi khối tinh bột kết lắng chắc ở đáy bể.
  5. Bảo quản: Tinh bột ướt được chứa trong các túi ni lông dầy xếp chặt trong bể xi măng (bảo quản được khoảng 2 tháng) hoặc chôn kín dưới lòng đất để bảo quản gối vụ trong thời gian lên tới 2 năm.

Bảng so sánh tỷ lệ chuyển đổi sắn củ tươi thành tinh bột sắn ướt giữa các vùng

Địa bàn nghiên cứu / Loại hình công nghệ Khối lượng củ tươi (kg) Khối lượng tinh bột ướt thu được (kg) Tỷ lệ chuyển đổi (%)
Nhà máy tinh bột sắn Hùng Đức (Tuyên Quang - giống CN) 100 55,0 55,0
Xã Vĩnh Kiên (Yên Bái) - Máy ngang thớt nghiền 100 48,0 48,0
Xã Vĩnh Kiên (Yên Bái) - Máy 2 thớt nghiền 100 45,0 45,0
Làng nghề Hoài Đức (Hà Nội) 100 38,9 - 44,3 38,9 - 44,3
Xã Vĩnh Kiên (Yên Bái) - Máy thớt đứng nghiền 3 sàng 100 43,0 43,0
Nhà máy tinh bột sắn Đồng Tâm (Bắc Kạn) 100 40,0 40,0
Giống sắn Lá Tre (Bắc Kạn) 100 38,0 38,0
Nhà máy chế biến tinh bột sắn Hóa Trạch (Quảng Bình) 100 25,0 25,0

3. Phân tích chi phí và hiệu quả kinh tế chế biến tinh bột sắn ướt

Hạch toán chi phí cho thấy cơ cấu chi phí sản xuất 1 tấn củ tươi tại các cơ sở chế biến xã Vĩnh Kiên có sự đồng nhất cao:

Bảng hạch toán chi phí chế biến cho 1 tấn sắn củ tươi theo nhóm công suất

Khoản mục chi phí Nhóm công suất cao (n=3) Nhóm công suất TB (n=2) Nhóm công suất nhỏ (n=2)
Chi phí BQ (1.000 đ) Cơ cấu (%) Chi phí BQ (1.000 đ) Cơ cấu (%) Chi phí BQ (1.000 đ) Cơ cấu (%)
Chi phí sắn củ tươi 1.750,00 94,14 1.750,00 94,33 1.750,00 94,41
Chi phí lao động 80,00 4,30 82,50 4,45 80,00 4,32
Năng lượng (điện) 28,89 1,56 22,69 1,22 23,67 1,27
Tổng chi phí 1.858,89 100,00 1.855,19 100,00 1.853,67 100,00

(Ghi chú: Đơn giá củ tươi thu mua phổ biến đạt mức 1.750.000 đ/tấn; chi phí lao động tính theo công khoán trung bình 80.000 - 82.500 đ/tấn củ tươi chế biến; giá điện biến động từ 1.400 đ/kWh từ lưới điện lực đến 2.000 đ/kWh từ hợp tác xã thủy điện địa phương; chi phí nước rửa bằng 0 do bơm trực tiếp từ sông Chảy).

Về đầu ra và tiêu thụ sản phẩm:

  • Tinh bột sắn ướt: Giá bán bình quân tăng từ 3,0 triệu đ/tấn (năm 2011) lên 3,6 triệu đ/tấn (2012) và đạt 4,1 triệu đ/tấn (2013). Sản phẩm được vận chuyển bằng xe tải xuất bán cho Nhà máy Thực phẩm Minh Dương (Hà Nội) để sản xuất đường mạch nha và maltodextrin; bán cho cơ sở Hoàng Ngọc Anh hoặc các thương nhân tại thành phố Việt Trì (Phú Thọ) để làm nguyên liệu cho nhà máy bột ngọt Miwon; một phần bán cho thị trường Hà Tây cũ và xuất sang thương nhân Trung Quốc.
  • Sản phẩm phụ: Bã sắn tươi được ưa chuộng do máy nghiền nhỏ để lại hàm lượng bột sót cao hơn nhà máy công nghiệp, được bán cho các trang trại nuôi lợn, cá tại Tuyên Quang, Vĩnh Phúc; tinh bột đen dùng trong chăn nuôi địa phương; vỏ củ dùng ủ phân hữu cơ.

Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển chế biến tinh bột sắn ướt

Dựa trên kết quả khảo sát, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể cho xã Vĩnh Kiên:

  1. Giải pháp về vùng nguyên liệu: Quy hoạch lại các diện tích đất đồi gieo trồng sắn; củng cố mối liên kết giữa các chủ cơ sở chế biến và hộ nông dân thông qua hợp đồng ứng trước giống mới, phân bón trả chậm nhằm ổn định nguồn cung củ tươi, hạn chế tình trạng thiếu hụt nguyên liệu cục bộ.
  2. Giải pháp về kỹ thuật và công nghệ sản xuất: Khuyến khích các cơ sở chuyển đổi từ máy nghiền thớt đứng sang công nghệ máy 2 thớt nghiền hoặc máy ngang thớt nghiền kết hợp thùng khuấy chung để nâng tỷ lệ thu hồi bột lên mức 45 - 48%; mở rộng chiều dài bể lắng để tinh chế triệt để dịch bột.
  3. Giải pháp xử lý môi trường: Yêu cầu cấp bách là khắc phục tình trạng xả trực tiếp nước dịch chua và bã thải xuống dòng sông Chảy. Cần xây dựng hệ thống bể lắng sinh học bậc thang hoặc hầm ủ biogas xử lý chất thải hữu cơ, vừa tận dụng khí sinh học phục vụ đun nấu, vừa giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước mặt.
  4. Giải pháp tổ chức thị trường và liên kết tiêu thụ: Thành lập tổ hợp tác hoặc hội ngành nghề chế biến tinh bột ướt Vĩnh Kiên để thống nhất giá thu mua củ tươi, tránh tình trạng ép giá lẫn nhau; ký kết hợp đồng tiêu thụ trực tiếp dài hạn với các doanh nghiệp chế biến lớn tại Hà Nội và Phú Thọ nhằm giảm bớt khâu trung gian thương lái.

Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả chính

  • Xác lập bức tranh toàn diện về nghề chế biến tinh bột sắn ướt tại xã Vĩnh Kiên qua giai đoạn 2011 – 2013: từ một cơ sở sơ khai năm 2002 đã phát triển thành 10 cơ sở với công suất chế biến đạt từ 5 đến 30 tấn củ tươi/ngày, tiêu thụ hơn 13.000 tấn củ tươi/năm.
  • Định lượng hóa các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật: Tỷ lệ chuyển đổi củ tươi sang tinh bột ướt dao động từ 43% đến 48%, đạt mức cao trong phân khúc chế biến quy mô nông hộ ở miền Bắc.
  • Bóc tách chi tiết cấu trúc chi phí sản xuất: Chi phí nguyên liệu củ tươi chiếm tỷ trọng chi phối tuyệt đối (94,14% - 94,41%), chi phí lao động chiếm 4,30% - 4,45% (với đơn giá khoán 80.000 đ/tấn củ) và năng lượng điện chiếm 1,22% - 1,56%. Lợi thế cạnh tranh nổi bật của địa phương là không tốn chi phí nước do nguồn nước dồi dào từ sông Chảy và hồ Thác Bà.
  • Xác định rõ kênh phân phối hàng hóa liên tỉnh: Sản phẩm tinh bột sắn ướt không tiêu thụ tại chỗ mà chuyển toàn bộ về các đầu mối công nghiệp thực phẩm lớn tại Hà Nội (Minh Dương), Phú Thọ (Miwon - Hoàng Ngọc Anh) và xuất bán sang Trung Quốc.

Đóng góp thực tiễn của tác giả

Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên đề vi mô đầu tiên hạch toán thực nghiệm chi phí và hiệu quả của nghề chế biến tinh bột sắn ướt tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Nghiên cứu đã làm rõ được hiệu quả kinh tế vượt trội của công nghệ máy ngang thớt nghiền và máy 2 thớt nghiền so với máy thớt đứng truyền thống, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cho UBND xã Vĩnh Kiên và Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Yên Bình trong công tác quy hoạch tiểu thủ công nghiệp làng nghề gắn với bảo vệ môi trường nông thôn.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát sơ cấp chỉ dừng lại ở 7 cơ sở trên địa bàn một xã duy nhất (Vĩnh Kiên); thời gian hoạt động chế biến trong năm mang tính thời vụ ngắn hạn (2,5 – 3,5 tháng) nên các thông số kinh tế chưa phản ánh được đầy đủ biến động thị trường ngoài vụ; nghiên cứu chưa tiến hành phân tích định lượng các chỉ tiêu hóa lý dòng thải (COD, BOD5, hàm lượng xyanua tự do trong nước ngâm sắn) để định mức chính xác chi phí xử lý môi trường trong tổng giá thành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn điều tra khảo sát chuỗi giá trị sắn trên toàn huyện Yên Bình và các huyện lân cận (Văn Yên, Lục Yên); nghiên cứu đánh giá mô hình kinh tế tuần hoàn ứng dụng hầm biogas quy mô cụm hộ để phát điện sinh học từ nước thải chế biến sắn; đánh giá tác động của biến động chính sách xuất khẩu sắn tiểu ngạch sang thị trường Trung Quốc đối với giá thu mua nông sản của người nông dân.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế nông nghiệp và Khuyến nông tham khảo về phương pháp thiết kế phiếu điều tra hộ/cơ sở chế biến cá thể, phương pháp phân tổ thống kê và hạch toán chi phí nông sản quy mô nhỏ.
  • Phần nội dung đáng tham khảo:
    • Quy trình mô tả công nghệ chế biến tinh bột sắn ướt quy mô bán cơ giới (Sơ đồ 3.1 và thuyết minh kỹ thuật lọc, lắng, gạn nước, chôn ủ bảo quản bột ướt).
    • Bảng so sánh tỷ lệ chuyển đổi bột sắn giữa các loại hình công nghệ và địa phương (Bảng 3.9).
    • Phương pháp hạch toán chi tiết chi phí chế biến trên 1 tấn nguyên liệu củ tươi (Bảng 3.10 và 3.11).

Câu hỏi thường gặp

1. Nghề chế biến tinh bột sắn ướt tại xã Vĩnh Kiên hình thành từ thời điểm nào và bắt nguồn từ đâu?

Nghề chế biến tinh bột sắn ướt tại Vĩnh Kiên bắt đầu hoạt động từ năm 2002, khởi đầu bằng cơ sở sản xuất của ông Phạm Hải Tài tại thôn Trò. Cơ sở này tiếp thu kỹ thuật chế biến từ cụm làng nghề truyền thống huyện Hoài Đức (Hà Nội) và trở thành cơ sở có công suất lớn nhất xã với quy mô tối đa 30 tấn củ tươi/ngày.

2. Quy mô công suất và chu kỳ sản xuất hàng năm của các cơ sở chế biến sắn tại Vĩnh Kiên như thế nào?

Tính đến thời điểm nghiên cứu, toàn xã có 10 cơ sở chế biến với công suất dao động từ 5 đến 30 tấn củ tươi/ngày (bình quân 16,5 tấn/ngày). Hoạt động chế biến mang tính thời vụ cao, mỗi năm chỉ kéo dài từ 2,5 đến 3,5 tháng (từ giữa tháng 11 đến tháng 1 hoặc giữa tháng 2 năm sau), thời gian làm việc bình quân 9,57 giờ/ngày và sử dụng bình quân 10,7 lao động/cơ sở.

3. Tỷ lệ chuyển đổi từ sắn củ tươi sang tinh bột sắn ướt tại địa phương đạt bao nhiêu và phụ thuộc vào yếu tố nào?

Tỷ lệ chuyển đổi tại xã Vĩnh Kiên dao động từ 43% đến 48% (100 kg củ tươi cho ra 43 - 48 kg tinh bột ướt). Tỷ lệ này phụ thuộc trực tiếp vào loại máy nghiền: máy ngang thớt nghiền đạt tỷ lệ cao nhất (48%), tiếp đến là máy 2 thớt nghiền (45%), và thấp nhất là máy thớt đứng nghiền 3 sàng (43%).

4. Cơ cấu chi phí sản xuất cho 1 tấn sắn củ tươi tại các cơ sở chế biến được phân bổ ra sao?

Chi phí sản xuất 1 tấn sắn củ tươi bình quân từ 1.853.000 đến 1.858.000 đồng, trong đó chi phí thu mua sắn củ tươi chiếm tỷ trọng áp đảo từ 94,14% đến 94,41% (đơn giá 1.750 đ/kg); chi phí công lao động khoán chiếm 4,30% - 4,45% (80.000 đ/tấn); chi phí điện năng vận hành máy chiếm 1,22% - 1,56% (giá điện từ 1.400 đến 2.000 đ/kWh); chi phí nước bằng 0 do bơm trực tiếp từ sông Chảy.

5. Tinh bột sắn ướt và phụ phẩm sau chế biến tại xã Vĩnh Kiên được tiêu thụ ở đâu?

Toàn bộ tinh bột sắn ướt được vận chuyển bằng xe tải xuất bán cho Công ty Cổ phần Thực phẩm Minh Dương (Hà Nội) để làm đường mạch nha, bán cho cơ sở Hoàng Ngọc Anh hoặc các đại lý tại Việt Trì (Phú Thọ) cung cấp cho nhà máy sản xuất bột ngọt Miwon, một phần bán sang Hà Tây cũ và thương nhân Trung Quốc. Phụ phẩm bã sắn được bán cho các trang trại nuôi lợn và cá lớn tại Tuyên Quang, Vĩnh Phúc; tinh bột đen dùng cho chăn nuôi gia súc địa phương và vỏ củ dùng ủ phân bón.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nông Thị Trưng đã phản ánh chân thực thực trạng hoạt động chế biến tinh bột sắn ướt bán cơ giới tại xã Vĩnh Kiên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2011 – 2013. Bằng việc điều tra thực địa 7 cơ sở chế biến đại diện, công trình đã chứng minh tính hiệu quả kinh tế của nghề chế biến tinh bột sắn trong việc gia tăng giá trị nông sản đồi rừng, đồng thời chỉ ra tính ưu việt về tỷ lệ thu hồi bột của công nghệ máy nghiền ngang và máy nghiền hai thớt. Các giải pháp quy hoạch vùng nguyên liệu, liên kết tiêu thụ sản phẩm và xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh học được đề xuất là những định hướng thiết thực nhằm giúp địa phương phát triển nghề chế biến tinh bột sắn theo hướng ổn định, hiệu quả và bền vững.