CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN VỀ DAU THAU CUA DOANH NGHIỆP. Tổng quan về đấu thầu ở Việt Nam trong thời gian qua LULL. Sịgphát triển về công tác dé thầu ở Việt Nam trong thoi gian qua “rước đây, việc thục hiện đầu tr được thực hiện theo kế hoạch hàng năm thông qua kế hoạch giao nhận thiu và như vậy không có đầu thầu để lựa chọn người thực hiện. Từ những năm 1989-1990, khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang cơ chế thị trường thì vấn đề tổ chức đầu thầu là yêu cầu tất yếu.
Trong “Bidu lệ quản lý đầu tư và xây dưng" ban hành kèm theo Nghị định số 385-HDBT ngày 7/11/1990 của Hội đồng Bộ trường, đã xác định đấu thầu là yêu cầu cần thiết đối với các công tình xây dựng cơ bản trong thời kỳ hiện tại. Để chỉ tiết hoá vi tổ chức thực hiện đấu thầu trong xây dựng cúc dự án đầu tư, ngày 12/2/1990, Bộ Xây dựng có Quyết định s 24/BXD-VKT ban hành “Quy chế Đầu thầu trong xây dựng Tiếp theo, ngày 30/3/1994 Bộ Xây đựng có Quyết định số 60/BXD-VKT ban hành “Quy chế Đầu thầu xây lắp" thay cho “Quy chế Đắu thầu trong xây dựng” nêu trên. Quy chế này được áp dụng cho các dự án dầu tư dũng vốn trong nước của các tổ chức Nha nước, song mới chỉ hạn chế trong lĩnh vực xây lắp vả được thực hiện chủ yêu trong ngành xây dựng. Đối với các dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức tài trợ quốc tế WB, ADB, ., việc đấu thầu được áp dụng theo quy định của nhà tài trợ.
Đối với việc nhập khẩu may móc thiết bị, thực hiện theo Quyết định 91/TTg ngàyl3/11/1992 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, các dự ấn có nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn vốn Nhà nước phải thục hiện thông qua đấu thầu, song chưa quy định cụ thị inh tự thực hiện đầu thầu. Để quản lý đầu thầu các dự án đầu tư một cách thống nhất, trong đó bao gồm cả các đự ấn sử dụng vn vay nước ngoài. ngày 16/4/1991, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 183/7Tg về việc thành lập Hội đồng xét thầu quốc gia để tư vẫn cho Thủ tướng “Chính phù phê duyệt kết quả đầu thầu đối với các dự án có mức vẫn từ 100 tỷ đông trở lên tương đương 10 triệu USD.
Đối với các dự ấn còn lạ, kết quả đấu thầu do Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt trên cơ sở thâm định của Hội đồng xét thầu cấp Bộ hoặc địa phương. Tuy nhién, trong “Quyết định số 183/TTạ nêu trên chỉ mới quy định về việc thả định và phê duyệt kết quả diu thầu mà không có quy định cụ thé về quy tình đầu thằu, cũng như các lĩnh vực đấu thầu cụ thể như tư vấn, mơa sắm bàng hoá, xây lấp ĐỂ quy định chỉ tết đối với tắt cả các lĩnh vực về đấu thầu và quản lý công tác đầu thầu một cách thống nhất, năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ và đầu tư chủ trì soạn thảo tình Chính phủ ban hành “Quy ché Bu thải p dụng cho sắc dự án đầu tư. Qua gin hai năm nghiên cứu với sự trợ giáp của các chy sia WB, ADB thông qua Dự án Tang cường năng lực dấu thầu. Bộ Kế hoạch và du tu đã hoàn thành Dự thảo Nghị định của Chính phủ vé việc ban hành Quy chế Đầu thầu.
Ngày 16/7/1996, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 43/CP ban hành Quy chế Đầu thầu thực hi trên phạm toàn quốc. Nội dung cơ bản của Quy ché Đâu thầu bao gm những quy định vỀ dite, ình tự tổ chúc thục hiện đầu thầu với các lĩnh vực tuyển chọn tư vẫn, mua sắm hàng hoá và xây lắp thuộc các dự án đầu tư. Quy chế Đắu thầu ra đôi đánh dầu một bước tin mới trong công tác quản lý của nước: ta, nó tạo ra một hành lang pháp lý cho việc lựa chon được các nhà thầu để thực hiện các dự án đầu tư, ng thời góp phin năng cao vai trò của chủ đầu tư và tăng cường trách nhiệm của nhà thằu. Thực hiện đầu thầu sẽ tạo được sự công bằng và cạnh tranh giữa các nhà hầu, hạn chế liêu cực trong việc lựa chọn đơn vị thực hiện và qua đó giảm được chi phí đầu tu, mang lại hiệu quả cho dự án.
Qua thực hiện dấu thu, chủ đầu tư có điều m lựa chọn được phương án có hiệu quả trong việc mua sim hàng hoá, lựa chọn được nhà thầu có đủ kinh nghiệm và năng lực, có phương án kỹ thuật biện pháp thi công tốt để thực hiện dyn, đảm bão chit lượng của công tình Các quy định về đâu thầu được xây dựng trên cơ sở tham khảo các quy định theo thông lệ chung của quốc tế và thực tiễn quan lý của Việt Nam, nên ngay từ ban đầu khi mới ban hành, Quy chế Đá thầu đã đã vào cuộc sống Tuy nhiên, đẫu thầ là công việc mới trong khi chúng ta mới chuyển sang cơ chế thị trường, cho nên vừa thực hiện. vừa phải nghiên cứu, chỉnh sửa các quy định về đấu thiu sao cho sát với thực tế hơn. “Thực tiễn trong những năm qua cho thấy. cứ bình quân khoảng 2 đến 3 năm, Chính hủ lại bạn hành Quy chế sửa đổi.
Đổ là Nghị định 93/CP ngày 23/8/1997 về sửa đổi, bổ sung Quy chế Bi thầu ban hành theo Nghị định 43/CP, iếp theo là Nghỉ định SS/CP ban hành Quy chế Đắu thầu thay thé Quy chế Đầu thầu đã được ban hành theo Nghị dinh 43/CP và ND 93/CP. Sau đó Quy chế Diu thiu ND 88/CP lạ tiếp tục được hoàn chỉnh trên cơ sở sửa đổi, b sung một số điều được quy định ti Nghị nh 14/CP ngày 5/5/2000 và Nghị định G6/CP ngày 12/6/2003. Có thé nói, Quy chế i thầu hiện hành cùng với các văn bản hướng dẫn có liên quan đã là cơ sở pháp lý cho việc thực ấu thầu đổi với các dự án đầu tư nói chung và các dự án sử dụng vốn Nhà nước ng. Tuy nhiên, tính pháp lý chưa cao.
Ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8, khoá XT Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Dau thầu 61/2005/QHI1 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2006 được xây dựng dựa trên Quy chế Đấu thầu hiện hành và dự thảo Pháp lệnh dau thầu gồm 6. chương, 77 điều đều nhằm tăng cường tính công kồni, minh bạch, tăng cường phân sắp, đơn gián hoá thủ tự từng bước khắc phục các tồn tại rong thực tiễn, Luật Đầu thầu là văn ban pháp lý cao nhất, diy đủ cho hoạt động dau thầu trong cá nước. Ngày 26/11/2013, Quốc hội Khóa XII đã thông qua Luật đầu thầu số 43/2013/QH13 sổ hiệu lụ thị hành từ ngày 01/7/2014, đồng thời ngày 26/6/2014, Chính phù cũng đã ban hành Nghị định số 63 /2014/NĐ-CP quy định chỉ ết thì hành một số điều của Luật đấu thấu về lựa chọn nhà thầu có hiệu lực ngày 15/08/2014 thay thể nghị định số 35/2009/NĐ - CP ngày 15/10/2009) 1.2, Sự hình thành và phát trién của doanh nghiệp xây dựng qua các thời kỳ 'Giai đoạn trước năm 1975 Ngày 29-1-1958, theo Nghị quyết của kì họp thứ VIH Quốc hội khoá T do Chủ tịch Hồ (Ch Minh chủ tọa đã quyết định thành lip Bộ Kiến trúc nay là Bộ Xây dựng. Sau khi thành lập, Lãnh đạo Bộ đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ CBCNV.
Đã tổ chúc thành lập. ic Công ty xây dựng khu vực như Công ty xây dựng. Hà Nội, Hải Phong, Uông Bi, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Nam Định, Vinh; các công, trường trực thuộc và một số đơn vị chuyên sâu như Công ty Lắp máy, Công ty Thi công cơ giới, Công ty Vận tải, các xí nghiệp sản xuất gạch ngồi, khai thác đá cắt si. trên cơ sở tuyển chọn lực lượng từ thanh niên xung phong, bộ đội chuyển ngành và lực lượng xây dựng ở các địa phương.
Với lực lượng các Công ty xây đựng đã trực tgp thi công hing tim công tinh lớn, nhỏ như xây đựng các nhà may diện Lào Cai,Vinh, Uông Bí, Ninh Bình, Thác Bà, các công trình hoá chat ở khu công nghiệp Việt Tri, khu Cao - Xà - Lá, khu gang thép Thái Nguyên, Nhà máy Cơ khí rung quy mô, Phin lin Văn Điễn, Phin dam Hà Bắc, Bóng đền phích nước Rang Đông, Dột 8-3, Dét Minh Phương, Dột Nam Định, Chè Phú Thọ, Thiếc Tỉnh Tic, Cá hộp Hai Phòng. Gỗ dị Cầu Duống.: xây đựng các trường đại học, trung học, bệnh viện, khách sạn kho tàng, các khu nhà ở và các công trình phúc. lợi, hạ tng kĩ thuật. Hẳu hết những công trình này được hoàn thành đúng tiến độ.
dua vào sử dụng góp phần phát triển kinh tế - văn hoá và xã hội. Gi loạn 5 năm 1976 - 1980 “Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lin thứ IV dưới sự chỉ đạo của Ngành xây dựng sác Công ty xây dựng đã nhanh chóng tổ chức, tập hợp sắp xếp và điều tiết lạ lực lượng xây dựng rong cả nước, hình thành bộ máy quả lý và các tổ chức xây dụng ở phía Nam, tăng cường năng lực các ổ chức xây dựng ở phía Bắc để thực hiện nhiệm vụ khôi phục nền kinh tế - xã hội, đồng thời tập trung thi công các công trình trong điểm của Nhà nước. Hàng loạt công trình quan trọng đã được khởi công xây đựng như ‘Thuy điện Hòa Bình, Trị An, Xi ming Hoàng Thạch, Bim Sơn. “Tổng giá trị xây dựng trong 5 năm 1976-1980 đạt 7.638 triệu đồng theo giá năm 1980, tăng 2,2 lần so với giai đoạn 1971 - 1975.
Trong giai đoạn này, bình quân hàng năm tăng 14% so với năm trước. Giai đoạn 10 năm 1981 - 1990 “Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lin thứ VI các Nghị quyết của Trung ương, của “Chính phủ về những chủ trương và chính sách đổi mới, các doanh nghiệp xây dựng có những chuyển biến quan trọng. Các đơn vị kinh tế cơ sở đã nâng cao ý thức tự chủ, năng động, mỡ rộng sản xuất kính doanh theo hướng đa dang hoá sản phim gắn với thị trường, tan dụng năng lực sẵn có, từng bước thoát ra khôi lối lâm an theo cơ chế bao sắp tong sản xuất kinh doanh và coi trọng hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường “Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp. dân dụng bước đầu thực hiện theo phương thức.
dau thầu theo Nghị định số 385-HĐBT ngày 7/11/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, mặc cdù đang còn sơ khai. Tuy vậy đã có tác dụng tích eve thúc đẩy các doanh nghiệp xây dụng d lạ lực lượng lao động, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật.