Chương 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ 1. Lý luận nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thu hút đầu tư 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh, nói chung là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất.
Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có cạnh tranh. Không có cạnh tranh sẽ không có sinh tồn và phát triển. Đó là quy luật tồn tại của môn loài. Trong kinh tế, cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội (Trần Sửu, 2005).
Tuy nhiên, ở mỗi một giác độ nghiên cứu, mỗi giai đoạn lịch sử và của mỗi tác giả thì có những quan điểm về cạnh tranh khác nhau. Vì vậy, cho tới nay sự thừa nhận một khái niệm chuẩn về cạnh tranh vẫn chưa được thống nhất. Có nhiều quan điểm về cạnh tranh khác nhau, thuộc nhiều trường phái nhưng tiêu biểu là các đại diện như Adam Smith; John Stuart Mill; Darwin; K.Marx…Với mỗi đại diện trên đưa ra quan điểm về cạnh tranh là khác nhau, tùy thuộc vào các hướng nghiên cứu ở mỗi lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau. Tuy nhiên, ở nội dung nghiên cứu này, luận án của tác giả chủ yếu tập trung đề cập tới khái niệm cạnh tranh kinh tế (Economic Competition).
Trong nghiên cứu của mình cũng đã nêu rõ, quan điểm cạnh tranh của K.Marx và cho rằng sự ra đời và tồn tại của cạnh tranh trước hết phải dựa vào hai điều kiện cơ bản: (1) Phân công xã hội; (2) Chủ thể lợi ích đa nguyên (Trần Văn Tùng, 2004). Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) cũng đã chỉ rõ, cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ 6 cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất, dẫn theo (Bùi Thị Thanh Hà, 2000). Trên thực tế, cạnh tranh đã tồn tại trong tất cả các quan hệ của đời sống từ chính trị, tôn giáo, kinh tế - xã hội. tới các tổ chức hội, ngành.
Vậy cạnh tranh là gì, được hiểu và vận dụng như thế nào trong suốt thời gian qua và định hình cho chiến lược thời gian tiếp theo của mỗi địa phương. Chúng ta đã thấy rõ, cạnh tranh luôn luôn tồn tại và không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các chủ thể, nếu các chủ thể có cùng mục đích, hành động dù xuất phát theo các cách khác nhau thì cũng sẽ dẫn tới cạnh tranh với nhau nhằm tìm kiếm mục đích riêng của chính mình. Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn từ điển kinh doanh của Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” (Lê Danh Vĩnh và cộng sự, 2010). Trong nền kinh tế thị trường, cùng với quy luật giá cả, quy luật cung cầu thì quy luật cạnh tranh đã tác động tích cực tới hoạt động sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng hàng hóa.
Nhận thức và thấy được vai trò của cạnh tranh, bởi vậy cạnh tranh chính là những động lực và thử thách của các nhà hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp thu từ những nghiên cứu trên, tác giả cho rằng: Cạnh tranh chính là biện pháp đặc biệt mà các tập thể, cá nhân quyết liệt nhằm giành về phía mình những điều kiện thuận lợi hơn từ môi trường bên ngoài và từ các tập thể, cá nhân khác có cùng mục đích. Các khái niệm về cạnh tranh trên đây chủ yếu gắn liền đến quyền lợi hoặc mục đích giữa các cá nhân, tổ chức kinh tế với nhau. Cùng với quá trình phát triển của xã hội khái niệm của cạnh tranh đã vượt ra khỏi phạm vi của một một sản phẩm, một cá nhân, một tổ chức và hình thành nên ở phạm vi rộng hơn, đó là cạnh tranh giữa các quốc gia, giữa các vùng lãnh thổ.
Cạnh tranh cũng được thể hiện theo nhiều tiêu chí, giác độ nhìn nhận khác nhau nên rất đa dạng và phức tạp. Sự đa dạng, phức 7 tạp của khái niệm cạnh tranh xuất phát từ sự đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội, sự đa dạng về cách nhìn và cũng xuất phát từ nhu cầu của sự phát triển. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Khái niệm về năng lực cạnh tranh đã được bàn thảo nhiều và đưa ra theo nhiều quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Viện Quản lý kinh tế Trung ương và Học viện năng lực cạnh tranh Châu Á của Singapore quan niệm về năng lực cạnh tranh gồm năng lực cạnh tranh vĩ mô, với các nhóm nhân tố chất lượng của hạ tầng xã hội và thể chế chính trị cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô.
Năng lực cạnh tranh vi mô gồm các nhóm nhân tố như sự tinh thông của doanh nghiệp, trình độ phát triển của các cụm ngành và chất lượng của môi trường kinh doanh. Bên cạnh đó là các lợi thế tự nhiên cũng là một nhóm nhân tố nữa cần xem xét, vì nhóm nhân tố này cũng tạo ra một môi trường tổng thể mà trong đó vì vị thế tương đối của nó so với các nền kinh tế khác được xác định. Tổng hợp khái niệm về năng lực và năng lực cạnh tranh, theo đó năng lực là: 1) những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì đó; 2) khả năng đủ để thực hiện tốt một số công việc. Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ (Nguyễn Như Ý, 2008).
Trong rất nhiều các công trình đã được công bố, nhiều học giả đã đề cập tới các thuật ngữ nhằm mô tả quá trình tăng trưởng kinh tế quốc gia, phát triển doanh nghiệp, phát triển sản phẩm mới, ngành hàng…bằng các khái niệm như sức cạnh tranh, lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, tính cạnh tranh, năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu với hiệu qủa cao và bền vững (Phan Nhật Thanh, 2010). Một số công trình nghiên cứu gần đây, các tác giả đã thể hiện khái niệm năng lực cạnh tranh như là một kết quả bao quát của nhiều yếu tố được lựa chọn làm cơ sở tổng hợp mà xuất phát từ tất cả các yếu tố tác động tới môi trường bên trong và bên ngoài của các cá nhân, tổ chức hay ở phương diện doanh nghiệp, tỉnh, thành phố, quốc gia. 8 Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả khái quát chung về năng lực cạnh tranh đối với một địa phương như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng tập hợp đầy đủ các nguồn lực, lợi thế của chính địa phương mình và được vận dụng phát huy tối đa các nguồn lực, lợi thế đó nhằm mang lại hiệu quả cao thực hiện những mục tiêu nhất định so với các điều kiện chung, giống nhau với các địa phương khác.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Theo Briguglio and Cordina (2004) cho rằng việc phát triển các vùng sẽ xuất phát đáng kể vào nâng cao khả năng cạnh tranh của vùng này, từ đó giúp cho cả quốc gia trở nên mạnh mẽ hơn. Vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các tỉnh, thành phố ở nước ta cũng sẽ càng trở nên ý nghĩa hơn. Kết hợp với ý nghĩa nội hàm các khái niệm cạnh tranh đã trình bày, đặc biệt là khái niệm cạnh tranh vùng, địa phương ta có thể nhận thấy hoạt động cạnh tranh cấp tỉnh được diễn ra trong một trật tự chung dưới sự tác động bởi các chính sách từ Trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh sẽ được hiểu hoàn toàn khác, xuất phát từ sự gắn bó, kết nối và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ bởi vai trò dẫn dắt của chính quyền cấp tỉnh với các lợi thế của địa phương.
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu hút đàu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối quan hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia (Phan Nhật Thanh, 2010). Cùng với quá trình hội nhập và thu hút đầu tư nước ngoài, khái niệm cạnh tranh cấp tỉnh ở nước ta càng được quan tâm nhiều hơn. Chính vì vậy, cần phải hiểu đúng và đầy đủ về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, từ đó giúp các tỉnh có biện pháp tương xứng, phù hợp để không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho địa phương mình, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Tuy nhiên khái niệm này đưa ra chưa nhiều nên có thể hiểu đó là năng lực cạnh tranh của một tỉnh nhằm đạt được một mục đích nào đó, hoặc dùng để đánh giá so sánh giữa các địa phương với nhau theo một tiêu chí quản lý nào đó và được phản ánh qua các tiêu chí cụ thể.
Theo quan điểm của tác giả thì năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chính là thể hiện tối ưu hóa sự khác biệt trong xây dựng đường lối phát triển kinh tế - xã hội bởi vai trò lãnh đạo cấp tỉnh, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất về phát triển kinh tế - xã hội cho từng thời kỳ cụ thể. 9 Trong tư duy cạnh tranh phát triển bền vững, năng lực cạnh tranh của tỉnh được đánh giá chủ yếu trong con mắt của nhà đầu tư và doanh nghiệp mà không chỉ dưới góc nhìn chính quyền tỉnh. Đồng thời, các tỉnh cạnh tranh đặt trong mối quan hệ hợp tác, liên kết để phát huy tốt nhất lợi thế của mỗi tỉnh trong khung khổ luật pháp quốc gia và thông lệ quốc tế (Phan Nhật Thanh, 2010).