CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ NĂNG Lực CẠNH TRANH SẢN PHẢM DU LỊCH VÀ Cơ SỞ THỰC TIỀN 1. Tông quan lý luận về sản phâm du lịch Theo lịch sừ của ngành du lịch thì việc di chuyền của con người nhằm một mục đích nhất định đã có tò hàng ngàn năm về trước. Xuất phát tò câu chuyện hành hương về đinh núi Olympia của người dân thuộc nền văn minh Hy Lạp cổ xưa vào khoảng thế ki VIII trước công nguyên cho đến các tour du lịch hiện nay trên toàn thế giới. Trải qua nhiều thế ki, các định nghĩa, khái niệm du lịch được ra đời và được chinh sữa tùy theo hrng thời điểm của lịch sử.
Lịch sử du lịch đã xuất phát từ rất lâu nhưng mãi đến gần cuối thế ki 19, đầu thế ki 20 các nhà khoa học cũng như các tồ chức trên thế giới mới đưa ra các khái niệm cơ bản được vận dụng đến ngày hôm nay. Một số khái niệm về sản phâm du lịch Định nghía về đu lịch Trở về lại năm 1963, tại hội nghị Liên Hiệp Quốc (United Nations Conference) bàn về Ngành Du Lịch và Lừ Hành Quốc Tế đã định nghĩa cụm từ Du Lịch: “là hoạt động gan liền với cả nhân đi viếng thăm một địa diêm nào đó Định nghĩa này cũng chia khách du lịch thành hai nhóm khác nhau. Đầu tiên là những du khách viếng thăm một địa điểm nào đó trong vòng 24 giờ sẽ được gọi là khách tham quan (Visitor). Bên cạnh đó, khách hàng du lịch vì các mục đích sức khỏe, thể thao, nghĩ dưỡng, học tập hoặc vì mục đích tôn giáo tham gia các chuyến đi trên 24 giờ sẽ được gọi là khách du ngoạn (Excursionist).
Tuy nhiên định nghĩa này đã gặp phải nhiều vướng mắc tại các cuộc tranh luận sau đó bởi vì các yếu tố chủ quan. Vào năm 1976, Học Viện Du Lịch - tiền thân của của Hiệp Hội Du Lịch Quốc Tế - đã đề xuất một định nghĩa mới. Du Lịch: “là một hoạt động di chuyển ngắn hạn của con người ra khôi nơi cư trú, nơi họ sống và làm việc”. Vì định nghĩa trên du lịch dần được hiểu là sự di chuyền của con người vì các mục đích khác nhau bao gồm cả việc tham quan hoặc ngắm cảnh.
Theo một khía cạnh rộng hơn của ngành du lịch, đã được định nghĩa bởi Hội Nghị Quốc Tế về Du Lịch Giải Trí được tồ chức bời Các chuyên gia mạng hrới du lịch toàn cầu và Hiệp Hội Du Lịch tại Cardiff 1981, thi Du Lịch: “là sự di chuyển cùa con người gồm các hoạt động được chọn lựa và thực hiện ở nơi ngoài khu vực cư trú. Du 7 lịch cỏ thê có hoặc không bao gồm việc lưu trú qua đêm ”. Định nghĩa này có sự khác biệt so với định nghĩa trước về việc gắn thêm vào yếu tố thời gian lưu trá. Thế nhưng chính yếu tố thời gian cũng đã gặp phải vấn đề, di chuyền kliỏi nơi cư trú bao lâu là đủ? Chính vi lí do đó, một hội nghị khác được thiết lập và đira ra định nghĩa du lịch một lần nữa.
Vào năm 1991, tại hội nghị Liên Hợp Quốc về Tồ Chức Du Lịch Thế Giới (UNWTO: United Nations World Tourism Organisation) đã làm rõ định nghĩa du lịch: “Du Lịch bao gồm các hoạt động cùa con người di chuyên đến và lưu trú tại một nơi ngoài khu vực định cư thường xuyên không quả một năm liên tiếp với mục đích giãi trì, kinh doanh hoặc những mục đích khác”. Định nghĩa này sau đó vấp phải một số khiếu nại nhô từ các chuyên gia du lịch toàn cầu nhưng hầu đã bao hàm các ý nghĩa quan trọng về thời gian, không gian, đối tượng tham gia du lịch. Và các quốc gia trên thế giới đều đồng ý ràng định nghĩa này chuẩn xác và được phổ cập đến tất cả các quốc gia khác. Theo khoản 1, Điều 3, Luật Du lịch 2017, có nêu: “Du lịch ỉà các hoạt động liên quan đến chuyến di cùa con người ngoài nơi am trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nham đáp ứng các nhu cầu tham quan, nghi dường, giải tri, tìm hiểu, khám phả tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích họp pháp khác”.
Các khái niệm du lịch được phân tích dưới những góc nhìn khác nhau của những bên liên quan như theo tác giả Nguyền Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008) thì trên góc độ người kinh doanh du lịch, “Du lịch là quá trình tồ chức các điều kiện về sản xuất và phục vụ nhàm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của người đi du lịch”; hoặc trên góc độ của người đi du lịch “Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời ở ngoài nơi lưu trú thường xuyên của cá thề, nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau, với mục đích hòa bình và hữu nghị”. Từ các khái niệm trên cho thấy du lịch không chi là một hoạt động đơn thuần mà hoạt động du lịch là hoạt động tồng hợp của nhiều mối quan hệ và tác động qua lại của các bên có liên quan như khách du lịch, các tài nguyên du lịch tại điểm đến và các hoạt động kinh doanh và quản lý du lịch. Vì vậy, khi tiến hành nghiên cứu, đánh giá hoạt động du lịch cần chú ý đến các bên có liên quan, điều đó giúp các nhà nghiên cứu có cái nhìn cụ thề và toàn diện hơn. 8 Như vậy, thông qua các hội nghị trên toàn thế giới và căn cứ theo văn bản Luật Du Lịch thì Du Lịch đã được định nghĩa rõ ràng và áp dụng không chi trong lãnh thổ Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.
Các định nghĩa này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận và ban hành rộng rãi. Thông qua các định nghĩa ta có thề thấy được các yếu tố về Không Gian, Thời Gian, Chủ Thể được tích hợp trong một hoạt động. Hoạt động du lịch có tầm ý nghĩa cao và để thực hiện các tour du lịch cần phải có các công ty du lịch. Các công ty du lịch đã ra đời sớm hơn các đinh nghĩa trên gần 1 thế ki.
Khái niệm về sản phàm du lịch Đối VỚI một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành, nguồn thu chính là hr việc phân phối lại các sản phẩm của các đối tác kinh doanh theo dạng tour trọn gói hoặc bán lẻ từng nhóm sản phẩm riêng biệt. Kinh doanh dịch vụ hì hành là một ngành kinh doanh tổng hợp đặc biệt, huy động rất nhiều nguồn lực khác nhau như: cơ sở kinh doanh ăn uống; cơ sở kinh doanh lưu trú; các hãng vận chuyển về đường bộ, đường thủy, đường sắt, hàng không; các tài nguyên thiên nhiên du lịch và các dịch vụ khác. Theo tồ chức du lịch thế giới (UNWTO, CTC 2017): Sàn phẩm du lịch là tập hợp những yếu tố vật thể và phi vật thể như cảnh quan ựr nhiên, văn hoá, tài nguyên nhân tạo, cảnh quan hấp dẫn, cơ sờ vật chất, dịch vụ, và các hoạt động đặc sắc nhằm thu hút du khách hoặc đại diện cho điểm đến mang giá đến trị chính cho các hoạt động quảng bá nâng cao sự trãi nghiệm và cảm xúc luôn cuốn của du khách. Sản phẩm du lịch bao gồm giá và được bán qua các nhà phân phối khác nhau và có vòng đời của nó.
Theo Khoản 5, Điều 3, Luật Du lịch (2017) có nêu về sàn phẩm du lịch được định nghĩa là: “tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch dê thòa mãn nhu cầu của khách du lịch”. Tập hợp các sản phẩm du lịch đó có thể là một tour du lịch trọn gói được các công ty lữ hành đăng bán tại trụ sở công ty hoặc thông qua các kênh buôn bán trực tuyến. Một chương trinh du lịch căn bản cung cấp cho khách hàng có thể bao gồm: vé máy bay khứ hồi; xe di chuyển xuyên suốt hành trình du lịch; cơ sờ ăn uống như các nhà hàng, quán ăn địa phương; cơ sở kinh doanh lưu trú như các khách sạn, nhà nghi, khu nghĩ dường; điểm tham quan phục vụ nhu cầu của du khách; hướng dẫn viên du lịch cung cấp thông tin du lịch và kết nối các dịch vụ đặt trước phục vụ du khách. 9 Sản phẩm du lịch mở rộng là toàn bộ những yếu tố liên quan đến du khách, là tồng thể các yếu tố nhìn thấy cũng như không nhìn thấy được cung cấp cho du khách.
Sản phẩm du lịch mở rộng đó là hình ảnh hay đặc tính của sản phẩm mà du khách cảm nhận được. Hình ảnh đó bao gồm những yếu tố vật lý nlm kiến trúc, cảnh quan, màu sắc. và những yếu tố tâm lý như bầu không khí, lối sống, sự sang trọng, đẳng cấp xã hội. Theo tác giả Dương Văn Sáu (2010) có nêu: "Sờn phẩm du lịch ỉà toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa mang tình đặc thù do các cá nhân và tò chức kinh doanh du lịch cung cấp đế phục vụ những nhu cầu cùa các đối tượng du khách khác nhau đồng thời đem lại những lợi ích kinh tế, văn hóa - .rờ hội ờ nơi đang diên ra các hoạt động du lịch.
Sàn phàm du lịch luôn đáp ứng và làm tlìôa màn các nhu cầu cùa du khách; nó phù hợp với những tiêu chi nghề nghiệp theo thòng lệ quốc tế đồng thời chứa đựng nhưng giá trị văn hóa mang đặc trưng bàn địa”. Tác giả cho rằng, sản phẩm du lịch trước hết là một loại hàng hóa nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt, nó cũng cần có quá trình nghiên cứu, đầu tư, có người sản xuất, có người tiêu dùng. như mọi hàng hóa khác. Sản phẩm du lịch thường mang những đặc trưng văn hóa cao, thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng du khách.
Việc khai thác các giá tri văn hóa vật thể và phi vật thể của các địa phương vào hoạt động du lịch như việc đưa các loại hình nghệ thuật, dân ca, dân vũ, văn hóa ẩm thực hay các hình thức hoạt động thể thao, các hoạt động lề hội truyền thống, trình diễn, diền xướng dần gian.vào phục vụ du khách. Những hoạt động như vậy giúp cho du khách trực tiếp thẩm nhận và hường thụ, trải nghiệm văn hóa mà họ vốn có nhu cầu nhưng không biết tiếp cận như thế nào, ờ đâu, thời gian nào.? Sản phẩm du lịch còn là những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ làm đẹp,. tiện lợi, đem lại nhiều lợi ích to lớn cho du khách. Tổng hợp lại, giá trị của tất cả các sản phẩm du lịch khác nhau được đánh giá bằng số lượng khách đến và đi du lịch trên một địa bàn cụ thề.