Chương I: Lý luận chung về TSNH và hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp 1. Téng quan về TSNH của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm và đặc trưng của TSNH Theo PGS. TS Vũ Duy Hào (Viện Ngân hàng- Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân), khái niệm tài sản và tài sản ngắn hạn được thé hiện trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp xuất bản năm 2016 có thé được hiểu như sau: Tài sản là nguồn lực doanh nghiệp dự tính và kiểm soát được mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Các nguồn lực này có thê được thé hiện dưới dạng vật chất cụ thê như máy móc, nhà xưởng hoặc không ở dạng vật liệu cụ thê như bản quyền, bang phát minh hoặc bằng sáng chế.
Khả năng kiểm soát của doanh nghiệp đối với các tài sản đó xuất phát từ quyền sở hữu hoặc sử dụng lâu dài dựa trên các hợp đồng thuê tài chính. Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng dé tăng tiền và các khoản tương đương tiền hoặc giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra. Các quy định này tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay. Như vậy, yêu cầu chung của tài sản là thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng bởi doanh nghiệp và có thê sinh lời trong tương lai.
Đặc tính này cũng quyết định tầm quan trọng của tài sản đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ, không thé tồn tai và phát triển lâu đài mà không có tài sản. Nguyễn Trung Trực (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh) trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp xuất bản năm 2014 có đề cập: Tai sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyên, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Trong cuốn giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp của Đại học Ngoại Thương xuất bản năm 2011, TS.
Nguyễn Thu Thủy có nêu khái niệm về tài sản ngắn hạn như sau: Tài sản ngắn hạn là một trong những khoản mục trong bảng cân đối kế toán có thể chuyền đổi sang tiền mặt trong thời hạn 24 tháng. Tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền mặt và một số khoản thu ngắn hạn khác, đồng thời đó cũng là những tài sản có tính thanh khoản khác. Một góc nhìn khác từ cuốn sách Corperate Finance (McGraw- Hill 2016): “Tài sản là khái niệm gọi chung cho các của cải, vật chất được dùng vào mục đích sản xuất của doanh nghiệp nhằm đáp ứng mực tiêu quan trọng nhất đó là tối đa hóa giá trị tài sản thuộc chủ sở hữu. Tài sản bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn, mỗi loại tài sản chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
Tài sản dài hạn có đặc điểm là tốc độ thu hồi vốn chậm, khi kết thúc thời hạn tính khấu hao thì thu hồi toàn bộ vốn dau tư. Tai sản ngắn hạn là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyên, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu khác”. Bên cạnh đó, trong bai viết “Khái niệm tài sản ngắn hạn và quản trị tài sản ngắn hạn” của báo Ngân hàng 24h (tác giả Bình An, năm 2019) có một cách tiếp cận khác về tài sản ngắn hạn như sau: “Tai sản ngắn hạn hay còn được gọi là tài sản lưu động, nó là một trong những khoản mục trong bảng cân đối kế toán có thể chuyên đổi sang tiền mặt trong thời hạn 24 tháng.
Tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền mặt và một số khoản thu ngắn hạn khác, đồng thời đó cũng là những tài sản có tính thanh khoản khác. Tài sản ngắn hạn được đánh giá rất quan trọng trong kinh doanh bởi nó sẽ được sử dụng rất thương xuyên, sử dụng hàng ngày dé chi trả cho các chi phí phát sinh khác trong kinh doanh của các doanh nghiệp. Nó cũng là thước đo dùng để phản ánh các giá trị hiện có và tình hình biến động về kinh tế của doanh nghiệp tăng hay giảm. Thông thường tài sản ngắn hạn của các doanh nghiệp sẽ được ton tai bang rat nhiéu hinh thai trong đó có tiền, là các hiện vật như hàng hóa và các dang đầu tư ngắn hạn như trái phiếu, cô phiếu đều được liệt kê vào tài sản ngắn hạn”.
Vậy tài sẵn ngắn hạn được hiểu là những tài sản có thời gian thu hồi hoặc sử dụng dưới hoặc bằng 12 tháng, gồm 3 loại chính là tiền, phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho. Từ khái niệm trên những đặc trưng của TSNH được rút ra như sau: TSNH biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như tiền và các tài sản tương đương tiền, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản khác. Các khoản mục này tương ứng với các mục đích chuyên biệt của TSNH trong doanh nghiệp: tiền và các khoản tương đương tiền hay chứng khoán khả thi đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hàng tồn kho được dùng trong khâu sản xuất kinh doanh, các khoản phải thu khách hàng dùng dé ghi nhận các khoản tín dung thương mại. TSNH thường luân chuyên trong một chu kỳ kinh doanh hoặc một năm.
TSNH như tiền mặt, hàng tồn kho thường được dùng trong một chu kỳ kinh doanh, phân biệt với TSDH như thiết bị, máy móc, nhà xưởng thường được sử dụng trong nhiều năm và trích khấu hao. TSNH thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành của sản phẩm. Đặc trưng này là điển hình của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho dùng cho mục đích sản xuất thường trải qua một quá trình biến đổi thành thành phẩm, hàng hóa hoàn chỉnh để đưa ra thị trường. TSNH có giá trị luân chuyên toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm làm ra.
Điều nay có nghĩa là mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi TSNH thành thành phẩm đã được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường.2 Phân loại TSNH Theo TS. Tran Minh Tuan (Viện Ngân hàng- Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân ) trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp xuất bản năm 2016 thì dựa vào mỗi tiêu chi, tài sản được phân loại theo những cách như sau: “Theo thời gian thu héi/ sử dụng (tài sản ngắn hạn / tài sản dài han), theo hình thái ton tại (tài sản hữu hình/ tài sản vô hình), theo tính chất vật lý (động sản / bất động sản), theo tính chất sở hữu (tài sản công / tài sản tư), hay mức độ đóng góp giá trị của tài sản vào giá trị sản pham dau ra (tài sản ngắn hạn/ tài sản cố định hữu hình). Sự phân chia này mang tính chất tương đối và thường đan xen với nhau”. Ngoài ra, theo PGS.
Lưu Thị Hương (Viện Ngân hàng- Tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân), trình bày trong cuốn Quản trị tài chính doanh nghiệp xuất bản năm 2003 thì “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyên, chứng khoán dễ thanh khoản. Các khoản dau tư tài chính ngắn hạn như cô phiếu, trái phiếu. Các khoản phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ. Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng gửi ban, hàng mua đang đi đường.
Các tài sản ngắn hạn thường tham gia và được thu hồi vốn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh”. Trong cuốn giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp của Đại học Ngoại Thương xuất bản năm 2011, theo TS. Nguyễn Thu Thủy thì “Tài sản ngắn hạn bao 9 gồm tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn han, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, hàng tồn kho và những tài sản có tính thanh khoản khác”. Nguyễn Trung Trực (Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh) trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp xuất bản năm 2014 thì “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thê tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa), dưới dạng dau tư ngăn han và các khoản phải thu khác.” Theo cuốn sách Corperate Finance (McGraw- Hill 2016) thì tài sản ngan han được phan loại chi tiết như sau: Phân loại theo hình thái biểu hiện: Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyền, tiền đưới dạng séc các loại, tiền trong thẻ tín dụng và trong tài khoản ATM.
Tiên là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bang cân đối kế toán. Loại tài sản này có thé dé dàng chuyên đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Bên cạnh đó các tài sản dạng đặc biệt như: vàng, bạc, đá quý, kim khí quý được dùng chủ yếu cho mục đích dự trữ. Tuy nhiên, tiền mặt cũng là loại tài sản không hoặc gan như không sinh lợi, bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào dé vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết.
Đầu tư tài chính ngắn han: Là các khoản đầu tư tài chính có thời hạn thu hồi vốn không quá 1 năm tài chính hoặc trong một chu kỳ kinh doanh. Các khoản phải thu: là một thành phần của tài sản ngắn hạn có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty thương mại, mua bán hàng hóa. Hoạt động mua bán chịu giữa các bên phát sinh các khoản tín dụng thương mại. Các khoản phải thu chủ yếu bao gồm các khoản phải thu từ khách hàng, ngoài ra còn có các khoản ứng trước cho nhà cung cấp.
Các chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh có liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phan bổ vào giá thành sản phẩm của nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí thuê tài san, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản. Hàng tồn kho gồm có: Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm vật tư dự trữ.