Luận án tiến sĩ kinh tế mạng lưới quan hệ đổi mới mô hình kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp tại việt nam

Nghiên cứu hệ thống mối quan hệ đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt, phương pháp định lượng kết hợp định tính,

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

229
11
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Giới thiệu

1.2. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu

1.3. Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam

1.4. Mạng lưới quan hệ ảnh hưởng đến BMI

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mối quan hệ giữa đổi mới mô hình kinh doanh và hiệu quả doanh nghiệp

Trong bối cảnh doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới mô hình kinh doanh (BMI) và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là rất quan trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong giai đoạn đầu hoạt động, tỷ lệ khởi nghiệp thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) chỉ đạt 20,8% sau 3,5 năm. Điều này cho thấy sự cần thiết phải áp dụng các chiến lược đổi mới sáng tạo nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động. Các DNKN cần xây dựng một mô hình kinh doanh linh hoạt, có khả năng thích ứng với sự biến đổi của thị trường. Theo đó, chiến lược kinh doanh và việc xây dựng mạng lưới quan hệ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng khả năng cạnh tranh và tăng trưởng doanh thu.

1.1. Tầm quan trọng của mô hình kinh doanh trong khởi nghiệp

Mô hình kinh doanh không chỉ là công cụ giúp DNKN xác định giá trị của sản phẩm mà còn là nền tảng cho việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững. Đổi mới mô hình kinh doanh giúp DNKN tạo ra giá trị mới cho khách hàng và tăng cường khả năng cạnh tranh. Theo Ibarra và cộng sự (2017), trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, việc áp dụng công nghệ và đổi mới vào mô hình kinh doanh là điều thiết yếu để tồn tại và phát triển. DNKN cần nhận thức rõ rằng, một mô hình kinh doanh hiệu quả không chỉ dựa vào sản phẩm mà còn phụ thuộc vào cách thức mà doanh nghiệp tương tác với khách hàng và các đối tác trong mạng lưới kinh doanh.

II. Mối quan hệ giữa mạng lưới quan hệ và hiệu quả hoạt động của DNKN

Mạng lưới quan hệ được xác định là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của DNKN. Theo nghiên cứu, mối quan hệ với các cán bộ chính phủ, đối tác kinh doanh và mối quan hệ xã hội đều có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của DNKN. Các DNKN cần chủ động xây dựng và duy trì mối quan hệ này để có thể tiếp cận thông tin và nguồn lực cần thiết. Việc xây dựng một mạng lưới quan hệ mạnh mẽ sẽ giúp DNKN có được sự hỗ trợ từ các tổ chức và cá nhân có kinh nghiệm, từ đó giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng thành công trong hoạt động kinh doanh.

2.1. Tác động của mối quan hệ xã hội đến hiệu quả doanh nghiệp

Mối quan hệ xã hội không chỉ giúp DNKN tiếp cận thông tin mà còn tạo cơ hội kết nối với các đối tác kinh doanh tiềm năng. Theo khảo sát của VCCI, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước là rất quan trọng trong việc tiếp cận thông tin và nguồn lực. DNKN cần chú trọng xây dựng mối quan hệ này để tối ưu hóa các cơ hội hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức liên quan. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả doanh nghiệp mà còn tạo ra cơ hội phát triển bền vững trong dài hạn.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu về đổi mới mô hình kinh doanh

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn cho DNKN tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu cung cấp những gợi ý quản trị cho các nhà lãnh đạo DNKN trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp. Việc áp dụng BMI sẽ giúp DNKN tìm ra các cơ hội mới, cải thiện quy trình sản xuất và tối ưu hóa chi phí. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc tăng cường mối quan hệ với các đối tác và chính phủ sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho DNKN trong việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới.

3.1. Khuyến nghị cho các nhà quản lý DNKN

Các nhà quản lý DNKN cần chủ động tìm kiếm và xây dựng mối quan hệ với các bên liên quan, từ đó tạo ra một mạng lưới hỗ trợ vững chắc. Họ cũng cần chú trọng đến việc đổi mới sáng tạo trong mô hình kinh doanh để có thể thích ứng với sự thay đổi của thị trường. Việc áp dụng các công nghệ mới và phương pháp quản lý hiện đại sẽ giúp DNKN tối ưu hóa hoạt động và nâng cao hiệu quả. Hơn nữa, các chính sách hỗ trợ từ chính phủ cũng cần được tận dụng tối đa để giảm thiểu rủi ro trong giai đoạn đầu khởi nghiệp.

21/12/2024
Luận án tiến sĩ kinh tế mạng lưới quan hệ đổi mới mô hình kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 bao gồm: (1) Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, (2) Mục tiêu nghiên cứu, (3) Câu hỏi nghiên cứu, (4) Phương pháp nghiên cứu, (5) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (6) Ý nghĩa, đóng góp mới của kết quả nghiên cứu và (7) Kết cấu của luận án. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Năm 2017, hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam có xu hướng được cải thiện. Các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng động thị trường, văn hóa và chuẩn mực xã hội và các Quy định của Chính phủ được đánh giá cao (GEM, 2017).

Các yếu tố về chương trình hỗ trợ của Chính phủ, chuyển giao công nghệ, Chính sách của Chính phủ có sự suy giảm qua các năm; không phải các yếu tố này kém đi mà do sự kì vọng về mức độ cải thiện trong hệ sinh thái khởi nghiệp chưa được đáp ứng (xem Bảng 1.1, Phụ lục, trang 34). Một hệ thống chính sách tốt và hiệu quả thúc đẩy khởi nghiệp không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà là của nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Thống kê cho thấy khoảng 97% doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đóng góp 40% ngân sách Nhà nước và tạo điều kiện việc làm cho 50% lao động (Nguyễn Trọng Hoài, 2016).

Khởi nghiệp tạo ra những doanh nghiệp mới (Gartner, 1985). Do đó, doanh nghiệp khởi nghiệp (từ đây viết tắt là DNKN) là bước đầu cho sự hình thành, phát triển và trở thành các doanh nghiệp trưởng thành sau này. Năm 2016 được Việt Nam xác định là năm quốc gia khởi nghiệp và giai đoạn 2017 – 2020 được xem là thời kì vàng cho hoạt động khởi nghiệp1. Theo thống kê của 1 http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/khoi-nghiep-o-viet-nam-kho-hay-de- 122780.html -2- GEM (2017), tỷ lệ duy trì hoạt động kinh doanh sau khi khởi sự dưới 3,5 năm chiếm 20,8% (Hình 1.

Mặc dù đã được cải thiện so với năm 2016 là 12,7% nhưng tỷ lệ khởi nghiệp thành công vẫn còn rất thấp. Giai đoạn khởi sự kinh doanh (23,3%) Ý định Khởi sự Chủ/Quản lý hoạt Chủ/Quản lý hoạt động khởi sự kinh doanh động kinh doanh kinh doanh đã ổn định 25% (dưới 3 mới (dưới 3,5 năm) (trên 3,5 năm) 24,7% tháng) 20,8% 2,5% Quan niệm Thành lập Ổn định Hình 1. Phát triển kinh doanh ở Việt Nam năm 2017 Nguồn: GEM (2017) khảo sát người trưởng thành ở Việt Nam Nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các DNKN trong giai đoạn khởi sự rất đa dạng, có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản như: chiến lược kinh doanh không phù hợp, thiếu hiểu biết về pháp lý, bài toán “gọi vốn” và rào cản thủ tục hành chính (Ý Nhi, 2017). Tuy DNKN nhận được nhiều ưu tiên từ chính sách hỗ trợ phát triển của Chính phủ, sự quan tâm của xã hội và ủng hộ của các chủ thể liên quan: Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg về Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025; Nghị định số 35/NQ-CP về Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP về quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, v.

Thực tế, nhiều DNKN vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và nguồn lực. Thứ nhất, DNKN gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận vốn từ ngân hàng và các quỹ đầu tư, nguồn vốn hạn hẹp tự có chủ yếu đến từ các thành viên sáng lập. Thứ hai, DNKN không đủ điều kiện đầu tư phòng thí nghiệm, máy móc thiết bị để nghiên cứu và phát triển ý tưởng, sản phẩm mới. Thứ ba, DNKN còn hạn chế về kĩ năng quản trị, điều hành kinh doanh, xúc tiến, quảng bá sản phẩm vì người chủ/quản lý chủ yếu được đào tạo từ ngành kĩ thuật, công nghệ thông tin.

-3- Cuối cùng, nhiều DNKN còn gặp khó khăn trong việc thực hiện thủ tục hành chính (đăng kí kinh doanh, đất đai, giấy phép kinh doanh…), bảo hộ sở hữu trí tuệ (đăng kí bảo hộ sản phẩm sở hữu trí tuệ), tài chính (tiêu chuẩn kế toán, hóa đơn, kê khai thuế, v. Như vậy, DNKN rất khó tiếp cận thông tin và nguồn lực để xem xét và quyết định đầu tư (Hồ Quang Huy, 2018). Trong khi đó, thông tin được cung cấp từ các cơ quan Nhà nước còn rất hạn chế, nhiều DNKN thụ động khi tiếp nhận thông tin. Theo kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong khả năng tiếp cận thông tin và nguồn lực, liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.2 Một chủ đề mới gần đây đang thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trong phát triển lý thuyết khoa học đó là nghiên cứu đổi mới mô hình kinh doanh (từ đây viết tắt là BMI-Business Model Inovation) trong hoạt động khởi nghiệp, như nghiên cứu của Trimi & Berbegal-Mirabent (2012).

Mỗi doanh nghiệp trong ngành đều có một mô hình kinh doanh khác nhau, hoạt động dựa trên nguồn lực sẵn có. Các đối thủ cạnh tranh khó có thể bắt chước hoặc sao chép mô hình kinh doanh khác để áp dụng cho doanh nghiệp của họ (theo quan điểm nguồn lực). Trong giai đoạn ban đầu, mô hình kinh doanh của DNKN chưa ổn định, liên tục thay đổi nhằm thích ứng với sự biến động thị trường. Các thành phần của mô hình kinh doanh như: sản phẩm, công nghệ, khách hàng, đối tác, thị trường tiêu thụ, kênh phân phối, v.

chưa ổn định, DNKN luôn chủ động tìm kiếm hoặc cần sự trợ giúp từ các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Trong xu thế phát triển cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, công nghệ luôn thay đổi nhanh chóng. Vậy, làm sao DNKN có thể thích ứng và nắm bắt được cơ hội kinh doanh trong môi trường năng động như hiện nay? Vấn đề BMI cho các 2 https://baomoi.com/bao-dam-nhu-cau-tiep-can-thong-tin-cua-doanh-nghiep-khoi-nghiep/c/25023396.epi -4- DNKN trở nên rất quan trọng vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển sau này. Ibarra & cộng sự (2017) cho rằng cách mạng cộng nghiệp lần thứ 4 ảnh hưởng đến mô hình kinh doanh, doanh nghiệp cần thực hiện BMI như định hướng dịch vụ, hệ sinh thái trong mạng lưới kết nối (networked ecosystems) và định hướng khách hàng.

Để thực hiện BMI, DNKN cần những nguồn lực bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Như vậy, từ những chính sách pháp luật đã ban hành, các thông tin và nguồn lực hỗ trợ cho các DNKN trở nên cấp thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện BMI, và quyết định sự thành công của DNKN. Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, hỗ trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bao gồm hỗ trợ tư vấn sở hữu trí tuệ, hoàn thiện sản phẩn mới và mô hình kinh doanh mới, sử dụng cơ sở kĩ thuật, cơ sở ươm tạo, và khu làm việc chung. Thực tế cho thấy, vườn ươm doanh nghiệp đã góp phần giảm thiểu rủi ro khởi nghiệp, gia tăng khả năng tồn tại và phát triển cho DNKN (Phạm Tiến Đạt, 2018).

Tóm lại, trong giai đoạn đầu, khi DNKN thiếu nguồn lực, việc thực hiện BMI để thích ứng với sự thay đổi thị trường và cải thiện kết quả hoạt động đòi hỏi DNKN phải có nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài. Và cũng trong giai đoạn này, DNKN nhận được sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ. Do vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào để DNKN tiếp cận thông tin và nguồn lực từ các cá nhân/tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp? Để trả lời cho câu hỏi trên, vấn đề nghiên cứu DNKN xây dựng mạng lưới quan hệ (relationship network) với các cơ quan Chính phủ và cá nhân/tổ chức hỗ trợ để tiếp cận thông tin và nguồn lực nhằm thực hiện đổi mới cho mô hình kinh doanh, cải thiện kết quả hoạt động là rất cần thiết được thực hiện trong bối cảnh hiện nay. Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam Vấn đề nghiên cứu sự đổi mới của doanh nghiệp thông qua mạng lưới quan hệ nhằm cải thiện kết quả hoạt động là một lĩnh vực được nhiều học giả quan tâm.

Tuy nhiên, mức độ công bố các nghiên cứu về mối quan hệ giữa 3 yếu tố (mạng lưới quan hệ, đổi mới và kết quả hoạt động) còn khá hạn chế. Nghiên cứu của Gronum & -5- cộng sự (2012), và Dolfsma & Eijk (2017) là 2 nghiên cứu điển hình trong lĩnh vực này, nhưng các nghiên cứu này đều chưa xác định đầy đủ mạng lưới quan hệ và hoạt động đổi mới của doanh nghiệp. Các học giả thường tập trung vào từng mảng nghiên cứu khác nhau. Ví dụ, mạng lưới quan hệ ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới của doanh nghiệp (Xu & cộng sự, 2008; Jørgensen & Ulhøi, 2010; Wu, 2011; Gao & cộng sự, 2017; v.

), mạng lưới quan hệ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động (Su & cộng sự, 2015; Pratono, 2018; Kregar & Antončič, 2016; Anwar & cộng sự, 2018, v.) và hoạt động đổi mới tác động đến kết quả hoạt động (Atalay & cộng sự, 2013; Kafetzopoulos & Psomas, 2015, v. Cụ thể cho vấn đề đổi mới là BMI đang thu hút nhiều học giả áp dụng trong lĩnh vực khởi nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện BMI thông qua mạng lưới quan hệ của nhà quản lý như nghiên cứu điển hình của Guo & cộng sự (2013), Anwar & Shah (2018), hay ảnh hưởng của BMI đến kết quả hoạt động như nghiên cứu của Zott & Amit (2008), Heij & cộng sự (2014) Halecker & cộng sự (2014), Anwar (2018). Các nghiên cứu trên chủ yếu được thực hiện tại các quốc gia có nền kinh tế đã phát triển (Đức, Hà Lan, và một số quốc gia thuộc châu Âu) và thị trường mới nổi (Trung Quốc, Pakistan, v.

Đối tượng nghiên cứu là SMEs và doanh nghiệp hoạt động có vốn mạo hiểm. Các doanh nghiệp này hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ, sản xuất, thương mại, và thường phân loại theo quy mô (vốn, lao động, doanh thu, v. Foss & Saebi (2016) đã tổng hợp các nghiên cứu BMI giai đoạn 2000 - 2015 và đề xuất 4 dòng nghiên cứu trong tương lai cho BMI, thể hiện trong Hình 1. Dòng nghiên cứu thứ 1: Xây dựng khái niệm BMI và các thành phần của BMI; Dòng nghiên cứu thứ 2: Xác định các yếu tố là tác nhân và kết quả của BMI; Dòng nghiên cứu thứ 3: Xác định các biến điều tiết giữa tác nhân và kết quả của BMI; Dòng nghiên cứu thứ 4: Tác động biên của các yếu tố dẫn đến thực hiện BMI và kết quả của BMI.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ với tiêu đề "Luận án tiến sĩ: Mối quan hệ giữa đổi mới mô hình kinh doanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam" nghiên cứu sâu về cách mà việc đổi mới mô hình kinh doanh ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Tác giả đã chỉ ra rằng sự đổi mới không chỉ giúp các doanh nghiệp thích ứng với thị trường mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững. Bài viết cũng cung cấp những kiến thức quý báu về các yếu tố cần thiết để thực hiện đổi mới mô hình kinh doanh thành công, từ đó nâng cao hiệu suất làm việc và khả năng sinh lời của doanh nghiệp.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh xây dựng mô hình tồn kho tối ưu tại công ty cổ phần Đại Tân Việt, nơi mà việc tối ưu hóa mô hình kinh doanh cũng được bàn luận, hay Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh tạo động lực cho người lao động tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, tập trung vào yếu tố con người trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cuối cùng, bạn cũng nên xem xét Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh ảnh hưởng của văn hóa số lãnh đạo số năng lực số và sự nhanh nhẹn của tổ chức đến chuyển đổi số, để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và khả năng đổi mới trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh đầy biến động.