CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN SỐ VÀ CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 1. Khái niệm về dân số và chất lượng dân số a. Khái niệm về dân số Trong dân số học, thuật ngữ “dân số” không chỉ hiểu theo nghĩa thông thường, mà còn hiểu theo nghĩa rộng của nó.
Và được nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh và trạng thái động cùng những yếu tố gây nên sự biến động đó. Dân số theo nghĩa thông thường là dân số trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định. Dân số theo nghĩa rộng được hiểu là một tập hợp người. Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng.
Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động. Ngay bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già và tử vong. Dân số luôn luôn biến động theo thời gian và không gian. Những biến động về dân số có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội.
Nhằm đảm bảo sự kiểm soát nhất định đối với vấn đề dân số của một quốc gia thì quốc gia thường có những cuộc điều tra dân số để làm cơ sở đánh giá, nhận định và đưa ra những chính sách đối với vấn đề dân số của quốc gia mình. Từ các quan niệm trên về dân số, ta rút ra khái niệm chung như sau: Dân số là số lượng và chất lượng người của một cộng đồng dân cư, cư trú trong một vùng lãnh thổ (hành tinh, khu vực, châu thổ, quốc gia…) tại một thời điểm nhất định. Khái niệm về chất lượng dân số Từ đầu những năm 1980 các nhà nghiên cứu dân số và phát triển đã quan tâm tới vấn đề phát triển con người và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của nền kinh tế của các quốc gia. Thuật ngữ “chất lượng dân số” cũng xuất hiện nhiều từ đấy.
Cho đến nay, có ba luồng quan niệm cơ bản về chất lượng dân số. Quan niệm thứ nhất: cho rằng chất lượng dân số là tập hợp các đặc trưng xã hội và con người của cộng đồng dân cư. Các đặc trưng này bao gồm thể lực, sức chịu đựng, trí thông minh, đạo đức, khả năng tư duy và trình độ học vấn hoặc tay nghề của cư dân trong cộng đồng. Quan niệm thứ hai: cho rằng chất lượng dân số chính là tập hợp các cấu trúc khác nhau của dân số mà theo C.
Mar các cấu trúc này được quyết định bởi phương thức sản xuất cũng như chất lượng lao động xã hội. Các cấu trúc này bao gồm cấu trúc giai cấp, cấu trúc xã hội, sức khoẻ, giáo dục, nghề nghiệp, hôn nhân, giới tính, độ tuổi, dân tộc,. Quan niệm thứ ba: cho rằng chất lượng dân số cần phải được xem xét trên góc độ lý thuyết về vốn con người (human capital). Những người theo chủ thuyết này cho rằng có một tập hợp các đặc trưng cơ bản tạo nên chất lượng của dân số.
Các đặc trưng này bao gồm sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ nghề nghiệp và kinh nghiệm sản xuất ra của cải vật chất. Với những quan niệm trên, chỉ tiêu phản ánh chất lượng của dân số phải là sự tổng hoà của tất cả các yếu tố đã đề cập ở trên. Tại điều 3 mục 6 - Pháp lệnh dân số của Việt Nam (2003): “Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số”. Trong đó: Thể chất gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó có các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo,., dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yếu tố giống nòi, gen di truyền (như tật nguyền bẩm sinh, thiểu Luan van 9 năng trí tuệ, nhiễm chất độc hóa học, chất độc màu da cam…) của người dân.
Trí tuệ gồm các yếu tố trình độ học vấn, thẩm mỹ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề… thể hiện qua tỷ lệ biết chữ, số năm bình quân đi học/đầu người, tỷ lệ người có bằng cấp, được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật. Tinh thần gồm các yếu tố về ý thức và tính năng động xã hội thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thông tin, vui chơi, giải trí. của người dân. Đặc điểm dân số và đặc trưng của chất lượng dân số a.
Đặc điểm dân số Dân số đóng vai trò vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng, là yếu tố chủ yếu của quá trình sản xuất. Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm, hợp lý hay không hợp lý sẽ tạo ra các kết quả dân số tương ứng về quy mô, cơ cấu, phân bổ và chất lượng dân số và đây cũng chính là những đặc điểm cơ bản của dân số. - Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định. - Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác.
Trong đó hai đặc trưng quan trọng và có ý nghĩa tương đối thống nhất trong mọi xã hội đó là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính của dân số bởi đây là những đặc trưng không chỉ ảnh hưởng tới mức sinh, chết, đi, đến mà còn ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi quốc gia. - Phân bố dân cư là sự sắp xếp số dân trên một vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của người dân và các yêu cầu nhất định của xã hội. Để đánh giá mức độ phân bố dân cư có thể sử dụng hai thước đo cơ bản là mật độ dân số và tỷ trọng phân bố dân cư. Mật độ dân số là chỉ số xác định Luan van 10 số dân sinh sống trên một đơn vị lãnh thổ; tỷ trọng phân bố dân cư là tỷ lệ phần trăm dân số ở một vùng so với toàn bộ dân số sinh sống trên một đơn vị lãnh thổ.
- Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số. Các thành phần của chất lượng dân số bao hàm: Thể chất gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó có các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo, dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yếu tố giống nòi, gen di truyền (như tật nguyền bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, nhiễm chất độc hóa học, chất độc màu da cam…) của người dân; Trí tuệ gồm các yếu tố trình độ học vấn, thẩm mỹ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề… thể hiện qua tỷ lệ biết chữ, số năm bình quân đi học/đầu người, tỷ lệ người có bằng cấp, được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật. ; Tinh thần gồm các yếu tố về ý thức và tính năng động xã hội thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thông tin, vui chơi, giải trí. của người dân.
Đặc trưng của chất lượng dân số Có 3 đặc trưng cơ bản về chất lượng dân số: - Chất lượng dân số có tính đặc trưng theo từng vùng, từng thời kì. Con người sinh sống trong một môi trường, hoàn cảnh nào thì về nòi giống, phẩm chất và đời sống tinh thần mang những đặc trưng riêng của những vùng miền và thời kì đó. Vì vậy, vấn đề quan trọng là sự phù hợp giữa chất lượng con người với môi trường, khung cảnh kinh tế xã hội mà con người đang sinh sống, không nên rập khuôn những tiêu chí về chất lượng dân số ở các nước phương Tây với các nước phương Đông. - Trong chất lượng dân số, yếu tố chất lượng con người đòi hỏi phải được tích lũy, phát triển và rèn luyện qua thời gian, nó sẽ mất dần đi nếu không được sử dụng, rèn luyện và phát triển thường xuyên.
Chất lượng con Luan van 11 người được nâng cao thông qua quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao chất lượng giống nòi. - Chất lượng dân số gắn liền với quá trình tái sản xuất dân số nên nó cũng mang tính mâu thuẫn và tính quán tính, để đổi mới chất lượng dân số chúng ta cần thời gian và thế hệ. Vì chúng ta không thể trong thời gian ngắn mà cải thiện được chất lượng giống nòi, tình trạng sức khỏe, trình độ học vấn của người dân. Vai trò của dân số và tăng trưởng kinh tế Trong quá trình phát triển dân số đóng vai trò vừa là lực lượng sản xuất tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho xã hội vừa là lực lượng tiêu thụ sản phẩm.Vì vậy quy mô, cơ cấu dân số có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích lũy xã hội.
Trong những năm gần đây, yêu cầu tìm hiểu và đánh giá cụ thể hơn mối quan hệ giữa biến động dân số với tăng trưởng kinh tế ngày càng cấp thiết hơn. Đặc biệt với các nước đang phát triển đang trải nghiệm những biến động dân số mạnh mẽ do tác động của các chính sách dân số thì nhu cầu này lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết. Cho đến nay, lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm về mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế với những lý luận và bằng chứng khác nhau: (1) Lý thuyết dân số học “bi quan” với lập luận chủ yếu là tăng dân số tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế; (2) Lý thuyết dân số học “lạc quan” lại cho rằng tăng dân số có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế; và (3) Lý thuyết dân số học “trung tính” cho rằng dân số tác động đến tăng trưởng kinh tế theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện khác. Lý thuyết dân số học “bi quan” Người khởi xướng lý thuyết này là Thomas Malthus thông qua cuốn sách.Thực chứng về quy luật dân số của ông viết năm 1789.Ông cho rằng, Luan van 12 trong bối cảnh nguồn lực bị giới hạn, nhu cầu lương thực ngày càng tăng và tiến bộ công nghệ chậm chạp sẽ làm trầm trọng hơn sức ép từ việc tăng dân số.
Vì thế, nhu cầu lương thực sẽ luôn thấp hơn mức cần thiết và điều này sẽ chỉ dừng lại khi mức tăng dân số bị chậm lại do tỷ lệ chết cao hơn.