CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN SỐ 1. Khái niệm về dân số Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước, có liên quan đến nhiều hoạt động, nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống KT-XH. Dân số đã, đang và sẽ còn là một trong những vấn đề lớn mà nhân loại phải đặt biệt quan tâm.
Vì vậy, có nhiều môn học nghiên cứu dân số và ngoài từ dân số trong cuộc sống, các tài liệu, sách báo. còn dùng các từ dân cư, nhân khẩu, dân tộc, nhân dân; giữa các từ này với dân số có điểm chung giống nhau nhưng cũng có những nét đặc trưng khác nhau. - Dân cư là tập hợp những con người cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất định. Dân cư của một vùng lãnh thổ là khách thể nghiên cứu chung của nhiều bộ môn khoa học, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Khái niệm dân cư không chỉ bao gồm số người, với cơ cấu độ tuổi và giới tính của nó, mà còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hóa, sức khỏe, ngôn ngữ, tập quán… [17] - Dân số là dân cư được xem xét, và nghiên cứu ở góc độ quy mô và cơ cấu. Quy mô cơ cấu dân số trên một lãnh thổ không ngừng biến động do sinh, chết và di cư, theo sự biến đổi của thời gian, mọi người đều chuyển từ tuổi này sang tuổi khác. - Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số. Dân số được nghiên cứu ở trong các lĩnh vực riêng, trong một nhánh của sinh thái học có tên gọi sinh vật học, và trong di truyền học.
Trong động lực học về dân số, kích cỡ dân số, độ tuổi và cấu trúc giới tính, số người tử vong tỉ lệ sinh và sự phát triển dân số được nghiên cứu. [26] Trong dân số học, thuật ngữ “dân số” không chỉ hiểu theo nghĩa thông Luan van 9 thường, mà còn hiểu theo nghĩa rộng của nó. Nó nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh và trạng thái động cùng những yếu tố gây nên sự biến động đó. Thật vậy, dân số theo nghĩa thông thường là dân số trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định.
Bởi vì dân số có thể coi là số lượng dân số của cả trái đất hay một phần của nó, của một quốc gia hay một vùng địa lí nào đó. Tất nhiên trên quan niệm dân số học thì dân số của một nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Dân số theo nghĩa rộng được hiểu là một tập hợp người. Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng.
Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động. Ngay bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già quá và tử vong. Dân số là cộng đồng người sống trên một lãnh thổ tại một thời điểm nhất định. Thuật ngữ này không chỉ hàm chứa số dân mà còn đề cập đến chất lượng của dân số: kết cấu, sự phân bố, trình độ văn hóa.
Đặc điểm dân số Dân số đóng vai trò vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng, là yếu tố chủ yếu của quá trình sản xuất. Quy mô và phân bố dân số, cơ cấu dân số và chất lượng dân số là các đặc tính của dân số có ảnh hưởng rất lớn tới quy mô, cơ cấu sản xuất, đến quá trình phát triển KT-XH. - Quy mô dân số là số người sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định. [10] Phân bố dân số là sự sắp xếp số dân trên một vùng lãnh thổ phù hợp với điều kiện sống của người dân và với các yêu cầu nhất định của xã hội.
Để đánh giá mức độ phân bố dân cư có thể sử dụng hai thước đo cơ bản là mật độ dân số và tỷ trọng phân bố dân cư. Mật độ dân số là chỉ số xác định số dân sinh sống trên một đơn vị lãnh thổ. Tỷ trọng phân bố dân cư là tỷ lệ phần trăm dân số ở một vùng so với toàn bộ dân số sinh sống trên một đơn vị Luan van 10 lãnh thổ. - Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác.Trong đó hai đặc trưng quan trọng và ý nghĩa của chúng tương đối thống nhất trong mọi xã hội đó là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính của dân số vì không những nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết và di dân mà còn ảnh hưởng đến quá trình phát triển KT - XH.
[11] Tuổi và giới là những đặc trưng sinh học thông thường đối với mỗi người trong mọi dân số. Do vậy, mỗi dân số có thể được mô tả theo các cơ cấu tuổi và giới của nó vì đặc trưng theo tuổi và giới của các dân số được hình thành bởi những ảnh hưởng kết hợp của các sự kiện sinh, chết và di dân. - Chất lượng dân số là sự phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân số. [12] CLDS thể hiện dưới góc độ cá nhân thì đó là chất lượng con người bao gồm các yếu tố thể lực, trí lực, tinh thần.
Nhưng dưới góc độ toàn XH thì CLDS là tổng thể dân số phải có quy mô, cơ cấu và phân bố con người hợp lý. Hai khía cạnh cá nhân và XH này trong CLDS không tồn tại riêng biệt mà có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tổng hợp các yếu tố thể lực, trí lực, tinh thần của mỗi cá nhân sẽ hình thành nên chất lượng của cả tổng thể dân số và ngược lại, các yếu tố thuộc về tổng thể dân số như quy mô, phân bố, cơ cấu tuổi, giới tính… cũng tác động và quyết định chất lượng con người. Vai trò của dân số và phát triển Dân số đóng vai trò hai mặt trong quá trình phát triển.
Một mặt dân số là lực lượng tạo ra của cải vật chất và các dịch vụ cho xã hội. Mặt khác, dân số là lực lượng tiêu thụ sản phẩm. Bởi vậy, quy mô, cơ cấu dân số có ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu sản xuất, tiêu dùng và tích luỹ xã hội. Dân số vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu dùng.
Vì vậy, Luan van 11 quy mô, cơ cấu và sự gia tăng của dân số liên quan mật thiết đến nền kinh tế và tới toàn bộ sự phát triển của mỗi quốc gia. Quy mô dân số lớn, nên lực lượng lao động rồi dào có khả năng phát triển toàn diện các ngành kinh tế vừa có thể chuyên môn hoá lao động sâu sắc tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy xã hội phát triển. Lực lượng lao động tạo ra tính năng động cao trong hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, những đặc điểm dân số nói trên cũng có nhiều tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế.
Điều này có thể tập trung xem xét đến các khía cạnh: tác động của dân số đến nguồn lao động, việc làm, tăng trưởng kinh tế, tiêu dùng và tích luỹ. Dân số của mỗi quốc gia hoặc mỗi địa phương thật sự có liên quan rất mật thiết đến sự phát triển của quốc gia, địa phương đó cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người dân. Về mặt xã hội, dân số đông đem lại nguồn lao động cho sản xuất, nhất là khi trình độ cơ giới hóa, tự động hóa chưa cao. Tuy nhiên, dân số đông dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng nhất là khi cung không đáp ứng đủ cầu.
Về mặt kinh tế, khi mà tài nguyên thiên nhiên, đầu tư cơ sở vật chất không đáp ứng kịp tỉ lệ tăng dân số, nạn thất nghiệp sẽ là một vấn đề nan giải. Từ đó dẫn đến những vấn đề như người lang thang, ăn xin thậm chí là những tệ nạn xã hội như trộm cướp, mại dâm. chưa kể đến sự đổ xô của nhiều người lên thành thị làm nặng thêm những vấn đề này ở các thành phố lớn. Về mặt giáo dục, dân số tăng nhanh có thể vượt mức đáp ứng của hệ thống giáo dục cộng với điều kiện kinh tế gia đình khó khăn làm tăng tình trạng thất học, bỏ học dẫn đến trình độ dân trí trung bình giảm thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội cũng như chất lượng cuộc sống.
Về mặt y tế, dân số tăng nhanh vượt quá mức cung ứng sẽ dẫn đến dịch bệnh gia tăng dẫn đến giảm sức lao động, thương tật, tử vong. Hậu quả nghiêm trọng nhất của việc tăng dân số là vấn đề môi trường. Việc khai thác Luan van 12 tài nguyên thiên nhiên một cách bừa bãi như phá rừng lấy đất canh tác, khai thác gỗ. đã tàn phá trầm trọng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên gián tiếp ảnh hưởng đến các rối loạn về mặt sinh thái như nạn lụt lội, hạn hán… Dân số tăng đặc biệt ở thành thị làm tăng mật độ dân cư, sống chen chúc, mất vệ sinh dẫn đến sự gia tăng các dịch bệnh.
Khói thải, nước thải, rác thải làm ô nhiễm môi trường không khí, nước, đất làm trọng trầm thêm những vấn đề sức khỏe nhất là ở các đô thị hoặc khu công nghiệp. Ảnh hưởng về mặt kinh tế, giáo dục, y tế, môi trường đã tác động mạnh đến đời sống xã hội và tâm lý của người dân. Cuộc sống khó khăn dẫn đến quẫn bách hoặc xào xáo, mâu thuẫn trong gia đình càng làm giảm thêm CLDS. Cho đến nay, lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm lý luận về mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế.
Mầm móng từ thời Thomas R.