Chương 1, Upper Saddle River, NJ: Prentice-Hall, Inc., LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Dựa vào các khái niệm về chuỗi cung ứng, ta có thể định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng là những thao tác tác động đến hoạt động chuỗi cung ứng để đạt kết quả mong muốn, trên thế giới có một số định nghĩa nhƣ sau: “Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý các mối quan hệ bên trên và bên dưới, với nhà cung cấp và khách hàng nhằm cung cấp giá trị khách hàng cao nhất với chi phí thấp nhất tính cho tổng thể chuỗi cung ứng”4. “Quản trị chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên của chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà bạn đang phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả nhất”.5 Trong ―Strategic Logistics Management‖, James R. Stock và Douglas M.
Lamber định nghĩa ―Quản trị chuỗi cung ứng là sự hợp nhất các quy trình hoạt động kinh doanh chủ yếu từ người tiêu dùng cuối cùng cho đến những nhà cung ứng đầu tiên cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, thông tin, qua đó gia tăng giá trị cho khách hàng và các cổ đông.” Thế giới đã có rất nhiều học giả nghiên cứu và đƣa ra các khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng, tuy ngôn từ và cách diễn đạt khác nhau nhƣng tóm lại có thể hiểu một cách đơn giản chuỗi cung ứng là một chuỗi liên kết nhằm tối ƣu hóa tất cả các hoạt động từ khâu đầu tiên là nhận đơn hàng đến khâu cuối cùng là phân phối sản phẩm tới tay ngƣời tiêu dùng, kể cả khâu hậu mãi. Còn quản trị chuỗi cung ứng là hoạt động để kiểm soát và tối ƣu hóa hoạt động các mối liên kết này để tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lƣợng cao với chi phí thấp và giao hàng nhanh nhất có thể. Xu hƣớng phát triển của chuỗi cung ứng * Lịch sử ra đời chuỗi cung ứng Mua hàng từ lâu đã đƣợc coi là một trong những nhiệm vụ cơ bản phổ biến cho mọi tổ chức, công ty, nhƣng vào các thập niên 78, 80 của thế kỷ 20 nhiều nhà lãnh đạo cấp cao của các tập đoàn lớn coi nhẹ chức năng này mà chỉ tập trung vào 4 Martin Christopher, Quản trị chuỗi cung ứng và hậu cần – Logistics and Supply Chain Management, 1992. 5 Michael Hugos, 2012, Essential of Supply Chain Managament, NXB TH HCM.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 các chức năng tiếp thị, nghiên cứu phát triển, tài chính và sản xuất. Chính quan niệm sai lầm này đã làm chậm bƣớc tiến của nghành cung ứng. Vào những năm 1960 và 1970 quản trị mua hàng và cung ứng thƣờng sử dụng hệ thống thẻ kho ( Thẻ Kardex) để quản lý hàng tồn kho. Bộ phận mua hàng chỉ quan tâm đến + Giá mua + Tránh để dây chuyền sản xuất ngừng trệ + Quản lý hàng tồn kho Vào cuỗi năm 1970 thị trƣờng trở nên mang tính quốc tế hơn, cả trên quan điểm tiếp thị lẫn cung ứng, máy tính bắt đầu hỗ trợ việc quản lý hàng tồn kho, chi phí cho nguyên vật liệu trở thành trở thành một đề tài quan trọng, việc quản lý hàng tồn kho đƣợc chú trọng hơn.
Gia tăng năng lực của chuỗi cung cấp Mở rộng và hình thành mối quan hệ chuỗi cung ứng JIT, TQM, BPR, liên minh nhà cung cấp & khách hàng Quản trị tồn kho và kiểm soát chi phí Sản xuất khối lƣợng lớn truyền thống 1950 1960 1970 1980 1990 2000 Tƣơng lai Hình 1 1: Những sự kiện lịch sử về quản trị chuỗi cung ứng6 Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) đƣợc phát triển và 6 Nguyễn Thanh Liêm, 2008, Giáo trình Quản Trị chuỗi cung ứng Đại học Kinh Đà Nẵng, 2008. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tầm quan trọng của quản trị nguyên vật liệu hiệu quả càng đƣợc nhấn mạnh khi nhà sản xuất nhận thức tác động của mức độ tồn kho cao đến chi phí sản xuất và chi phí lƣu giữ tồn kho. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính làm gia tăng tính tinh vi của các phần mềm kiểm soát tồn kho dẫn đến làm giảm đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng nhƣ nguồn cung. Thập niên 1980 đƣợc xem nhƣ là thời kỳ bản lề của quản trị chuỗi cung ứng.
Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên sử dụng một cách rộng rãi trên nhiều tờ báo cụ thể là ở tạp chí vào năm 1982. Cạnh tranh trên thị trƣờng toàn cầu trở nên khốc liệt vào đầu thập niên 1980 (và tiếp tục đến ngày nay) gây áp lực đến các nhà sản xuất phải cắt giảm chi phí nâng cao chất lƣợng sản phẩm cùng với việc gia tăng mức độ phục vụ khách hàng. Các hãng sản xuất vận dụng JIT và chiến lƣợc quản trị chất lƣợng toàn diện (TQM) nhằm cải tiến chất lƣợng, nâng cao hiệu quả sản xuất và thời gian giao hàng. Trong môi trƣờng sản xuất JIT với việc sử dụng ít tồn kho làm đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lƣợc và hợp tác của nhà cung cấp - ngƣời mua - khách hàng.
Khái niệm về sự cộng tác hoặc liên minh càng nổi bật khi các doanh nghiệp thực hiện JIT và TQM. Khi cạnh tranh ở thị trƣờng Mỹ gia tăng nhiều hơn vào thập niên 1990 kèm với việc gia tăng chi phí hậu cần và tồn kho cũng nhƣ khuynh hƣớng toàn cầu hóa nền kinh tế làm cho thách thức của việc cải thiện chất lƣợng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng và thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng gia tăng. Để giải quyết với những thách thức này, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp chất lƣợng cao, có danh tiếng và đƣợc chứng thực. Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kêu gọi các nhà cung cấp tham gia vào việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng nhƣ đóng góp ý kiến cào việc cải thiện dịch vụ, chất lƣợng và giảm chi phí chung.
Mặt khác, các công ty nhận thấy rằng nếu họ cam kết mua hàng từ những nhà cung cấp tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của mình thì đổi lại họ sẽ hƣởng lợi gia tăng doanh số thông qua sự cải tiến chất lƣợng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng nhƣ cắt giảm chi phí nhờ vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh kiện đƣợc sử dụng trong hoạt động sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp và ngƣời mua đã chứng tỏ sự thành công của mình. Vì vậy, quản trị chuỗi cung ứng phát triển song song theo hai hƣớng: (1) quản trị cung ứng và thu mua nhấn mạnh đến khách hàng công nghiệp hoặc khách hàng tổ chức và (2) vận tải và hậu cần nhấn mạnh từ nhà bán sỉ và nhà bán lẻ. Đối với ngành bán sỉ và bán lẻ, trọng tâm của quản trị chuỗi cung ứng là những vấn đề về vị trí và hậu cầu hơn là vấn đề sản xuất.
Quản trị chuỗi cung ứng trong những ngành này thƣờng liên quan đến việc đáp ứng nhanh chóng hoặc hậu cần tích hợp. Thành tựu của hệ thống chuyển đổi dữ liệu điện tử nội bộ (EDI), hệ thống mã vạch, Internet và công nghệ quét sóng băng tầng trong hai thập kỷ qua đƣợc hỗ trợ cho sự phát triển của khái niệm chuỗi cung ứng tích hợp. Các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ đã sử dụng quản trị chuỗi cung ứng nhằm đƣơng đầu với tính phức tạp và không chắc chắn chƣa từng có của thị trƣờng và để giảm thiểu tồn kho xuyên suốt chuỗi cung ứng. Việc phát triển nhanh chóng phần mềm quản trị chuỗi cung ứng khách hàng mà điển hình bao gồm việc tích hợp quản trị chuỗi cung ứng và các cấu thành của thƣơng mại điện tử đã hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển và ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng.
Chia sẻ thông tin với các đối tác chuỗi cung ứng thông qua EDI và Internet cho phép doanh nghiệp tích hợp chức năng tồn kho, hậu cần, mua nguyên vật liệu, vận chuyển và các chức năng khác nhằm tạo ra phƣơng thức quản trị tiên phong và hiệu quả hơn. Trong tƣơng lai, chúng ta sẽ hy vọng rằng quản trị chuỗi cung ứng nhấn mạnh đến việc mở rộng chuỗi cung ứng, gia tăng trách nhiệm của chuỗi và nhấn mạnh hơn nữa vào chuỗi cung ứng ―xanh‖ cũng nhƣ cắt giảm đáng kể chi phí của chuỗi. * Xu hƣớng phát triển Phát triển mạnh ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng vào quản lý xã hội cũng nhƣ tất cả các ngành kinh tế, sản xuất và tiêu thụ các loại sản phẩm: ô tô, dầu khí, điện tử, thủ công mỹ nghệ và sản xuất nông nghiệp, … Gia tăng tập trung vào các giá trị cốt lõi: các công ty ngày càng tin tƣởng rằng để cải thiện năng lực cạnh tranh của họ thì cần phải tập trung toàn bộ năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lực vào những mảng mà họ làm tốt nhất và chỉ thực hiện những hoạt động giúp họ gia tăng giá trị cốt lõi của mình. Một số công ty đang dần nhận ra rằng hoạt động cung ứng không phải là thế mạnh trong kinh doanh của mình và họ gia tăng chuyển sang nhà cung cấp dịch vụ cung ứng chuyên nghiệp để đạt đƣợc hiệu quả và khả năng tối đa, điều mà họ sẽ không làm đƣợc nếu tự thực hiện.
Xu thế toàn cầu hoá: trong quá trình tìm kiếm những giá trị lớn hơn, các công ty luôn tìm kiếm thị trƣờng mới và nguồn nguyên liệu mới rẻ hơn trên toàn thế giới, họ phải nhờ đến nhiều công ty cung ứng. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu khách hàng một cách tối ƣu, các công ty cung ứng tìm mọi cách mở rộng hoạt động của mình trên toàn cầu, sáp nhập hoặc hợp tác nhằm cung cấp dịch vụ khách hàng một cách toàn diện. Chuyển hƣớng từ phƣơng pháp Đẩy (Push) sang phƣơng pháp Kéo (Pull): tức chuyển từ hƣớng sản xuất, tồn kho và ―đẩy‖ ra thị trƣờng để đáp ứng nhu cầu sang sản xuất theo các đơn đặt hàng để đáp ứng ngay nhu cầu thực tế, khi đó sẽ giảm tối thiểu tồn kho và rút ngắn chu trình sản xuất.