Tổng quan luận án

Hoạt động gia công xuất khẩu (GCXK) hàng hóa cho thương nhân nước ngoài là một phương thức kinh doanh thương mại quốc tế quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Theo báo cáo tổng điều tra kinh tế năm 2017, trong năm 2016, các doanh nghiệp tại Việt Nam đã thu được 8,6 tỷ USD từ hoạt động nhận gia công, lắp ráp hàng hóa cho nước ngoài. Để tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, các cơ chế chính sách liên quan đến Luật Hải quan, Luật Thuế, Luật Quản lý ngoại thương đã được sửa đổi theo hướng thông thoáng, đơn giản hóa thủ tục hải quan: bãi bỏ việc doanh nghiệp phải thông báo hợp đồng gia công trước khi thực hiện, không phải thông báo định mức sản phẩm xuất khẩu cho từng mã sản phẩm, chuyển đổi cơ chế quản lý sang việc doanh nghiệp tự khai báo và nộp báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên phụ liệu định kỳ.

Tuy nhiên, sự thông thoáng này cùng với đặc điểm các cơ sở sản xuất phân tán và nguồn nhân lực của cơ quan hải quan có hạn đã dẫn đến nhiều rủi ro, phát sinh các hành vi gian lận thương mại (GLTM) tinh vi. Các hành vi gian lận như khai sai định mức, khai khống nguyên liệu, bán nguyên liệu vào thị trường nội địa không nộp thuế, tiêu thụ trái phép thành phẩm... có xu hướng gia tăng qua các năm. Thống kê số vụ vi phạm trong hoạt động GCXK bị phát hiện và xử lý tăng từ 669 vụ (năm 2016) lên hơn 720 vụ (năm 2019) và hơn 800 vụ (năm 2020). Thực trạng này gây thất thu ngân sách Nhà nước, bóp méo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín thương mại của Việt Nam.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về gia công thương mại hoặc chống buôn lậu nói chung, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với các biện pháp hạn chế GLTM trong hoạt động GCXK dưới góc độ quản lý của Tổng cục Hải quan Việt Nam trong bối cảnh chính sách mới.

Mục tiêu nghiên cứu: Thông qua nghiên cứu phân tích thực trạng GLTM và các biện pháp quản lý hiện hành, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đối với Tổng cục Hải quan Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, hạn chế gian lận trong hoạt động GCXK, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh thương mại lành mạnh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ sở lý luận về hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu.
  2. Phân tích thực trạng các biện pháp hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu tại Tổng cục Hải quan, từ đó đánh giá các kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân.
  3. Xây dựng quan điểm, đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu tại Tổng cục Hải quan trong giai đoạn tới.

Câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 4 câu hỏi:

  1. Nhận diện những hình thức gian lận thương mại và gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu?
  2. Thực trạng gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn hiện nay như thế nào?
  3. Công tác hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu tại Tổng cục Hải quan giai đoạn hiện nay đang được thực hiện như thế nào?
  4. Để hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu giai đoạn tới cần có những giải pháp nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng gian lận thương mại của các doanh nghiệp gia công xuất khẩu và thực trạng công tác hạn chế gian lận thương mại đối với hoạt động gia công xuất khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào công tác hạn chế GLTM của cơ quan hải quan đối với hai nhóm ngành hàng chủ lực là dệt may và da giày. Hai nhóm hàng này chiếm khoảng 80% tổng nguồn thu trong lĩnh vực gia công của Việt Nam (năm 2016, phí gia công dệt may đạt 4,1 tỷ USD, chiếm 48%; giày dép đạt 2,7 tỷ USD, chiếm 32%; trong khi lắp ráp điện thoại đạt 268 triệu USD, chiếm 3,1%; lắp ráp điện tử máy tính đạt 63 triệu USD, chiếm 0,7%; hàng hóa khác đạt 1,4 tỷ USD, chiếm 16,2%). Đây cũng là hai lĩnh vực có hoạt động gian lận diễn ra phức tạp nhất.
  • Phạm vi không gian: Trên địa bàn hoạt động hải quan Việt Nam, tập trung khảo sát tại Tổng cục Hải quan và các Cục, Chi cục Hải quan tại các tỉnh, thành phố tập trung nhiều khu công nghiệp và doanh nghiệp gia công (Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu về hoạt động GCXK cập nhật đến năm 2021; số liệu thực trạng GLTM thu thập trong giai đoạn 5 năm (2016 - 2020); khảo sát điều tra sơ cấp tiến hành từ tháng 12/2020 đến tháng 3/2022; các giải pháp đề xuất định hướng áp dụng cho giai đoạn 5 năm tiếp theo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài được tác giả phân nhóm thành ba hướng chính:

1. Các nghiên cứu liên quan đến hoạt động gia công xuất khẩu:

  • Nghiên cứu quốc tế: Miaojie Yu và Wei Tian (2011) với công trình "China’s Processing Trade" đã phân tích tổng quan thương mại gia công chế biến của Trung Quốc qua 10 năm, làm rõ vai trò của gia công đối với sự phát triển kinh tế và cách thức quản lý của Chính phủ thông qua các khu thương mại tự do, khu chế xuất. XI Yu-bao, GAO Shou-dong và JIN Tao (2015) nghiên cứu bối cảnh lịch sử và hướng phát triển của thương mại gia công mặt hàng thể thao tại Trung Quốc, khẳng định vai trò chuyển giao công nghệ và quản lý lao động. HKTDC Research (2018) trong bài viết "Processing Trade" đã phân tích những thay đổi từ hệ thống phê duyệt hành chính phức tạp sang thẩm định năng lực doanh nghiệp thông qua cấp chứng chỉ và quản lý theo Sổ tay hải quan.
  • Nghiên cứu trong nước: Bùi Chí Bền (2016) nghiên cứu gia công xuất khẩu mặt hàng điện tử tại Đại học Bách Khoa; Vũ Hoàng Mạnh Trung (2017) nghiên cứu đẩy mạnh gia công xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam; Đỗ Huyền Trang (2021) phân tích thực trạng chất lượng dịch vụ gia công xuất khẩu sản phẩm may mặc của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong bối cảnh các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

2. Các nghiên cứu liên quan đến gian lận thương mại và hạn chế gian lận thương mại:

  • Nghiên cứu quốc tế: Anne-Marie Geourjon, Bertrand Laporte, Ousmane Coundoul, Massene Gadiaga (2012) nghiên cứu việc ứng dụng kỹ thuật khai phá dữ liệu (data mining) và thống kê để quản lý rủi ro hải quan tại Senegal. UNCITRAL - Liên hợp quốc (2013) phát hành ấn phẩm "Recognizing and Preventing Commercial Fraud", cung cấp 23 chỉ số nhận diện gian lận thương mại. Katharina Hofmann (2013) nghiên cứu gian lận thương mại trong kinh tế số. Aditi Lisa Otto (2013) nghiên cứu gian lận xuất khẩu máy móc thiết bị tại Mỹ. Vụ Chính sách về Ngân sách Nghị viện châu Âu (2019) nghiên cứu sự phối hợp giữa cơ quan thuế và hải quan để bảo vệ lợi ích tài chính của EU liên quan đến gian lận thuế VAT và thuế quan. Hoon Sung (2020) nghiên cứu giải pháp phần mềm quản lý chế độ thương mại gia công tại Trung Quốc để kiểm soát rủi ro từ việc ghi nhận sổ tay hải quan.
  • Nghiên cứu trong nước: Nghi Lộc (2010) trên Tạp chí Thương mại phân tích công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại của Ban chỉ đạo 127/TW. Trần Anh Tuấn (2013) khảo sát thực trạng buôn lậu, gian lận thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu tại Hà Nội (xử lý 217.033 vụ từ 2001-2012). Nguyễn Văn Cẩn (2019) nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của Hải quan Việt Nam trong đấu tranh chống buôn lậu và GLTM. Nguyễn Anh Tuấn (2020) nghiên cứu ứng dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong công tác chống buôn lậu và GLTM của Tổng cục Hải quan.

3. Các nghiên cứu về hạn chế gian lận thương mại trong gia công quốc tế của cơ quan hải quan:

  • Các công trình chuyên đề: Nguyễn Tiến Dũng (2011) nghiên cứu quản lý nhà nước với hàng may mặc gia công xuất khẩu tại Hà Nội; Đề tài cấp Bộ của Viện Nghiên cứu Dệt may Việt Nam (2012) làm rõ các hành vi lợi dụng sự thông thoáng để gian lận thuế đối với nguyên liệu may mặc; USAID (2012) ban hành "Cẩm nang kiểm tra sau thông quan" (Customs post-clearance audit manual) phân tích các kỹ thuật kiểm tra tờ khai và sổ sách sau giải phóng hàng; Nguyễn Quang Hùng (2012) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật quản lý hải quan đối với GCXK; Nguyễn Bằng Thắng (2014) nghiên cứu thủ tục hải quan điện tử trong hoạt động GCXK; Nguyễn Văn Sỹ (2015) nghiên cứu hạn chế GLTM trong gia công giày da tại Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Minh (2015) nghiên cứu hoạt động gia công và thủ tục hải quan giai đoạn 2012-2014; Thomas Cantens (2015) đề xuất phương pháp phân tích đối chiếu dữ liệu xuất nhập khẩu (Mirror Analysis) trong phát hiện gian lận hải quan; Huỳnh Sỹ Đan (2015) nghiên cứu thực trạng và giải pháp chống buôn lậu của ngành hải quan; Nguyễn Văn Bình (2016) nghiên cứu kiểm tra sau thông quan với hàng gia công; Nguyễn Phúc Thọ (2017) nghiên cứu kiểm tra sau thông quan hàng gia công theo Luật Hải quan 2014 tại Cục Hải quan Đồng Nai; Hà Huy Vinh (2017) phân tích các biện pháp hạn chế gian lận xuất xứ đối với hàng gia công tại Cục Hải quan Hà Nội.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận ở phạm vi hẹp (từng địa phương, từng Chi cục, Cục Hải quan tỉnh/thành phố) hoặc chỉ đi sâu vào một kỹ thuật nghiệp vụ đơn lẻ (kiểm tra sau thông quan, quản lý rủi ro, kiểm tra xuất xứ). Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn cấp quốc gia về quản lý hải quan nhằm hạn chế GLTM trong hoạt động GCXK tại Tổng cục Hải quan Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc phân loại 5 nhóm hành vi gian lận đặc thù trong GCXK, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá các biện pháp hạn chế GLTM của cơ quan hải quan và khảo sát thực chứng trên quy mô diện rộng đối với cả công chức hải quan và cộng đồng doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích:

  • Khái niệm về gia công xuất khẩu: Luận án kế thừa Điều 178 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 và khái niệm của Doãn Kế Bôn cùng cộng sự (2010), từ đó xác lập định nghĩa: Gia công xuất khẩu là một phương thức kinh doanh, trong đó bên nhận gia công trong nước nhận nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm của bên đặt gia công ở nước ngoài để tổ chức sản xuất thành sản phẩm theo yêu cầu và giao lại toàn bộ sản phẩm cho bên đặt gia công để nhận khoản thù lao (phí gia công).
  • Khái niệm gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan: Luận án tiếp thu định nghĩa của Hội đồng Hợp tác Hải quan quốc tế (WCO, 1995), tiêu chí của UNCITRAL (2013) và khái niệm của Đoàn Hồng Lê (2016), qua đó định nghĩa: Gian lận trong GCXK là một loại hình gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan, gồm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan của các chủ thể tham gia hoạt động gia công xuất khẩu nhằm trốn tránh các khoản thu trong lĩnh vực hải quan, nhận các khoản trợ cấp mà đáng ra không được nhận hoặc nhận được các lợi thế thương mại nhờ hoạt động gian lận.
  • Khung nội dung hạn chế GLTM của cơ quan hải quan: Dựa trên khung lý thuyết quản lý nhà nước về thương mại của Đặng Đình Đào và Hoàng Đức Thân (2012), luận án xác định nội dung quản lý hạn chế GLTM của cơ quan hải quan bao gồm 3 trụ cột: (1) Tham mưu xây dựng văn bản pháp lý, ban hành các văn bản hành chính; (2) Tổ chức bộ máy và đào tạo nhân lực thực thi; (3) Thông tin tuyên truyền, hướng dẫn phổ biến chính sách pháp luật cho các bên liên quan.
  • Khung tiêu chí đánh giá biện pháp: Luận án thiết lập 4 tiêu chí đánh giá các biện pháp hạn chế GLTM: (1) Tính hiệu lực; (2) Tính khả thi; (3) Tính công khai, minh bạch; (4) Tính phù hợp.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng mô tả.

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Công Thương, VCCI; các văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo tổng kết giai đoạn 2014 - 2021 của các Cục Hải quan địa phương có mật độ doanh nghiệp gia công cao (Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Bắc Giang, TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên).
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Thiết kế bảng hỏi khảo sát với 2 nhóm đối tượng: cán bộ công chức hải quan và đại diện doanh nghiệp GCXK.
    • Thang đo: Sử dụng thang đo định danh (đồng ý / không đồng ý / không có ý kiến) và thang đo khoảng cách Likert 5 mức độ (1- Rất không tốt đến 5- Rất tốt; hoặc các mức độ thuận lợi/hiệu quả tương đương).
    • Thử nghiệm bảng hỏi: Phỏng vấn sâu 5 chuyên gia tại Tổng cục Hải quan và 3 doanh nghiệp để hoàn thiện nội dung câu hỏi trước khi khảo sát chính thức.
    • Xác định quy mô mẫu theo công thức Yamane (1967): $$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$ Với độ tin cậy 95%, mức sai lệch cho phép $e = 0,1$ (10%).
Thông số mẫu khảo sát Nhóm cán bộ công chức hải quan Nhóm doanh nghiệp gia công xuất khẩu
Quy mô tổng thể ($N$) 9.816 cán bộ, công chức (theo Báo cáo TCHQ năm 2021) 1.740 doanh nghiệp (theo Báo cáo TCTK năm 2021)
Kích thước mẫu tính toán ($n$) $\approx 99$ mẫu (lựa chọn tối thiểu 100 mẫu) $\approx 30$ mẫu
Số phiếu phát ra thực tế 200 phiếu (40 phiếu tại TCHQ; 160 phiếu tại các Chi cục địa phương) 240 phiếu (tại các địa bàn tập trung DN dệt may, da giày)
Số phiếu hợp lệ thu về 112 phiếu 132 phiếu
Tỷ lệ phản hồi 56,0% 55,42%
Thời gian khảo sát Tháng 12/2020 đến tháng 3/2022 Tháng 12/2020 đến tháng 3/2022
  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu thuận tiện có chủ đích), tập trung vào các đơn vị hải quan quản lý trực tiếp hàng gia công, kiểm tra sau thông quan, quản lý rủi ro và các doanh nghiệp dệt may, da giày hoạt động tại các tỉnh trọng điểm.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp và xử lý trên bảng tính Microsoft Excel để tính toán các đại lượng thống kê mô tả (số bình quân, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, tỷ lệ phần trăm, số tương đối và số tuyệt đối). Phương pháp phân tích dữ liệu chủ yếu là thống kê so sánh ngang (giữa các nhóm đối tượng, giữa cơ quan quản lý và doanh nghiệp) và so sánh dọc (biến động qua các năm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về bản chất kinh tế của GCXK, phân tích các đặc điểm của quan hệ gia công quốc tế, quy trình thủ tục hải quan và các nguyên tắc quản lý thanh khoản tờ khai (thực hiện theo nguyên tắc thứ tự thời gian: tờ khai nhập khẩu nguyên vật liệu phải có trước tờ khai xuất khẩu sản phẩm; một tờ khai nhập khẩu có thể thanh khoản nhiều lần nhưng một tờ khai xuất khẩu chỉ được thanh khoản một lần).

Về gian lận thương mại, chương này phân tích 4 tác động tiêu cực của GLTM trong GCXK: (1) Bóp méo môi trường cạnh tranh, đe dọa các doanh nghiệp chân chính và ngành sản xuất nguyên liệu nội địa; (2) Gây tổn hại uy tín thương mại quốc tế của Việt Nam, khiến hàng xuất khẩu đối mặt nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, áp thuế chống bán phá giá từ các thị trường như Hoa Kỳ, EU; (3) Tác động tiêu cực đến môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); (4) Làm suy thoái đạo đức kinh doanh và phát sinh tiêu cực, tham nhũng trong thực thi công vụ.

Điểm nhấn lý luận của Chương 1 là việc tác giả nhận diện và phân loại toàn diện 5 nhóm hình thức GLTM trong hoạt động GCXK:

Nhóm hình thức gian lận Các hành vi vi phạm cụ thể
Nhóm 1: Gian lận về nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị, vật tư tiêu hao - Khai báo định mức tiêu hao nguyên vật liệu cao hơn thực tế sản xuất để chiếm dụng phần dư thừa tiêu thụ nội địa trốn thuế.
- Khai khống tỷ lệ hao hụt tự nhiên hoặc hao hụt tạo thành phế liệu, phế phẩm.
- Xử lý nguyên phụ liệu dư thừa, phế liệu, phế phẩm sai quy định (bán vào thị trường nội địa không khai báo, lợi dụng thủ tục tiêu hủy để tẩu tán).
- Tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng; đưa nguyên vật liệu đi gia công lại không thông báo cơ quan hải quan; tráo đổi nguyên phụ liệu; sử dụng tờ khai đã thanh khoản để quyết toán nhiều lần.
Nhóm 2: Gian lận xuất khống trong hoạt động gia công - Nhập khẩu nguyên phụ liệu nhưng không tiến hành sản xuất và không xuất khẩu sản phẩm.
- Doanh nghiệp làm thủ tục xuất khẩu khống hoặc số lượng hàng xuất khẩu thực tế ít hơn số lượng khai báo trên tờ khai.
- Bán thành phẩm hoàn chỉnh dưới hình thức bán phế liệu, phế phẩm hoặc để ngoài sổ sách kế toán để trốn thuế nhập khẩu.
Nhóm 3: Gian lận theo loại hình kinh doanh, chính sách mặt hàng và hồ sơ chứng từ - Khai báo theo loại hình gia công nhưng bản chất là mua đứt bán đoạn; giả mạo hợp đồng, chứng từ thanh toán.
- Hoạt động không đúng giấy phép đầu tư; nhập khẩu máy móc thiết bị dưới danh nghĩa phục vụ gia công miễn thuế nhưng không dùng cho dây chuyền sản xuất.
- Khai báo cơ sở sản xuất không có thật hoặc mượn cơ sở sản xuất của đơn vị khác khi cơ quan hải quan kiểm tra thực tế.
Nhóm 4: Gian lận xuất xứ trong hoạt động gia công xuất khẩu - Đầu tư dây chuyền gia công, lắp ráp giản đơn (chỉ đóng gói, dán nhãn, phân loại, chia tách) không đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa hoặc hàm lượng giá trị khu vực nhưng khai gian để xin cấp chứng nhận xuất xứ (C/O) Việt Nam nhằm lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu.
Nhóm 5: Gian lận chuyển giá trong hoạt động gia công xuất khẩu - Doanh nghiệp FDI giao dịch với công ty mẹ hoặc các bên liên kết: kê khai nâng khống giá nguyên vật liệu đầu vào và hạ thấp đơn giá gia công sản phẩm đầu ra để tạo tình trạng "lỗ giả, lãi thật", trốn thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Nâng khống trị giá máy móc thiết bị nhập khẩu góp vốn để tăng chi phí khấu hao và rút vốn bất hợp pháp.

Chương 1 cũng xác lập khung nội dung quản lý nhà nước của cơ quan hải quan và 4 tiêu chí đánh giá biện pháp hạn chế GLTM (hiệu lực, khả thi, công khai minh bạch, phù hợp), đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của Hải quan Trung Quốc (áp dụng Sổ tay hải quan kết hợp giải pháp phần mềm PTR) và Hải quan Senegal (ứng dụng khai phá dữ liệu trong quản lý rủi ro).

Chương 2: Thực trạng hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn hoạt động GCXK của Việt Nam giai đoạn 2016 - 2021, tập trung phân tích kim ngạch và thị trường của hai nhóm ngành hàng chủ lực là dệt may (mã loại hình E52) và da giày. Đồng thời, chương này tổng kết thực trạng phát hiện vi phạm hải quan giai đoạn 2016 - 2020:

  • Số vụ GLTM trong hoạt động GCXK bị xử lý liên tục gia tăng: năm 2016 ghi nhận 669 vụ; đến năm 2019 đạt trên 720 vụ và năm 2020 vượt mốc 800 vụ vi phạm.
  • Các hành vi gian lận phổ biến nhất tập trung vào nhóm gian lận định mức nguyên phụ liệu, tẩu tán nguyên liệu dư thừa vào thị trường nội địa mà không kê khai nộp thuế, và gian lận xuất xứ hàng hóa nhằm lẩn tránh thuế chống bán phá giá.

Về công tác hạn chế gian lận thương mại của Tổng cục Hải quan, luận án phân tích 5 mặt công tác chính:

  1. Tham mưu xây dựng văn bản pháp quy: Tham gia xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Hải quan 2014, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016, sửa đổi các Thông tư hướng dẫn thủ tục kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng gia công, quy định về báo cáo quyết toán và định mức.
  2. Tổ chức bộ máy và đào tạo: Phân định thẩm quyền từ cấp Tổng cục (Cục Giám sát quản lý về hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Quản lý rủi ro) đến các Cục, Chi cục Hải quan địa phương; tổ chức đào tạo nghiệp vụ quản lý hàng gia công cho công chức hải quan.
  3. Công tác tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp: Phổ biến chính sách qua cổng thông tin điện tử, phối hợp với VCCI tổ chức các hội nghị đối thoại doanh nghiệp định kỳ giai đoạn 2016 - 2020 nhằm giải đáp khó khăn về thủ tục hành chính.
  4. Kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm: Thực hiện kiểm tra cơ sở gia công, năng lực sản xuất; áp dụng phân luồng tờ khai theo tiêu chí quản lý rủi ro; tiến hành kiểm tra sau thông quan đối với báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên phụ liệu của doanh nghiệp.
  5. Hợp tác hải quan: Phối hợp liên ngành trong nước (Công an, Quản lý thị trường, Thuế) và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong xác minh xuất xứ, trao đổi thông tin phòng chống buôn lậu.

Đánh giá thực trạng theo 4 tiêu chí dựa trên kết quả khảo sát sơ cấp:

  • Tính hiệu lực: Cơ quan hải quan đã phát hiện và xử lý nhiều vụ việc gian lận lớn, thu hồi tiền thuế cho ngân sách, nhưng việc ngăn chặn từ sớm còn hạn chế do chủ yếu phát hiện sau khi hàng hóa đã được thông quan và tiêu thụ.
  • Tính khả thi: Còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Cả doanh nghiệp và công chức hải quan đều đánh giá thủ tục kiểm tra cơ sở sản xuất và thủ tục kiểm tra báo cáo quyết toán tồn kho nguyên phụ liệu gặp nhiều khó khăn. Doanh nghiệp gặp vướng mắc trong việc đồng bộ số liệu giữa hệ thống kế toán nội bộ và biểu mẫu báo cáo quyết toán hải quan; cơ quan hải quan thiếu nhân lực và công cụ để đối chiếu dữ liệu thực tế.
  • Tính công khai, minh bạch: Việc công khai thủ tục hành chính trên cổng thông tin được đánh giá tương đối tốt, song việc áp dụng quy định tại một số Chi cục hải quan địa phương còn thiếu tính thống nhất, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của công chức tiếp nhận.
  • Tính phù hợp: Một số quy định pháp lý chưa bắt kịp với tốc độ chuyển dịch chuỗi cung ứng quốc tế và sự phức tạp của các chu trình sản xuất gia công hiện đại.

Nguyên nhân của các hạn chế: Về nguyên nhân khách quan, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thay đổi nhanh; địa bàn sản xuất của doanh nghiệp trải rộng; thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi; quy định thương mại quốc tế phức tạp. Về nguyên nhân chủ quan, hệ thống công nghệ thông tin hải quan chưa tích hợp tự động với phần mềm quản trị doanh nghiệp; cơ chế chia sẻ thông tin liên ngành chưa thực sự thông suốt; lực lượng công chức chuyên trách còn mỏng và năng lực kiểm tra sổ sách kế toán chưa đồng đều.

Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu đối với Tổng cục Hải quan Việt Nam

Trên cơ sở dự báo bối cảnh gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại toàn cầu và xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng, Chương 3 xác định mục tiêu và 3 nguyên tắc xây dựng giải pháp: (1) Đảm bảo đúng pháp luật; (2) Đảm bảo tính khả thi; (3) Đảm bảo tính hiệu quả và tạo thuận lợi thương mại.

Hệ thống giải pháp cụ thể đối với Tổng cục Hải quan bao gồm 4 nhóm:

  1. Nhóm giải pháp tham mưu xây dựng văn bản pháp lý và ban hành văn bản hành chính: Tham mưu hoàn thiện các quy định về quản lý hoạt động gia công; chuẩn hóa mẫu biểu báo cáo quyết toán nguyên phụ liệu theo chuẩn mực kế toán doanh nghiệp; xây dựng quy chế cụ thể về tiêu chí đánh giá rủi ro đối với loại hình gia công; quy định rõ trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp đối với tỷ lệ hao hụt bất thường.
  2. Nhóm giải pháp tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực: Củng cố lực lượng kiểm tra sau thông quan và quản lý rủi ro chuyên sâu về loại hình gia công tại các Cục Hải quan trọng điểm; tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ năng kiểm toán kế toán, kỹ thuật phân tích số liệu phần mềm ERP của doanh nghiệp, kỹ năng nhận diện chuyển giá và gian lận xuất xứ.
  3. Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác thông tin tuyên truyền và hỗ trợ doanh nghiệp: Đổi mới các hình thức đối thoại theo chuyên đề ngành hàng (dệt may, da giày); thiết lập hệ thống hỏi đáp trực tuyến tự động; hướng dẫn chi tiết quy trình lập báo cáo quyết toán nhằm giảm thiểu sai sót kỹ thuật cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật.
  4. Nhóm giải pháp tăng cường hợp tác hải quan và phối hợp các bên liên quan: Xây dựng cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu điện tử theo thời gian thực giữa Hải quan với cơ quan Thuế nội địa (kiểm soát việc bán hóa đơn VAT, tiêu thụ nguyên liệu nội địa) và Bộ Công Thương (kiểm soát cấp C/O); tăng cường hợp tác song phương với cơ quan hải quan các nước đối tác nhập khẩu chính để áp dụng phương pháp phân tích đối chiếu tờ khai (Mirror Analysis).

Kiến nghị đối với các cơ quan liên quan:

  • Kiến nghị Quốc hội và Chính phủ: Rà soát, đồng bộ Luật Hải quan, Luật Đầu tư và Luật Thương mại; tăng cường chế tài xử phạt hành chính và hình sự đối với hành vi giả mạo xuất xứ và trốn thuế gia công; đầu tư kinh phí hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin hải quan.
  • Kiến nghị Bộ Tài chính: Ban hành các Thông tư hướng dẫn thống nhất về phương pháp quản lý định mức và kiểm tra quyết toán; hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro tích hợp giữa quản lý hải quan và quản lý thuế nội địa.
  • Kiến nghị Hiệp hội ngành nghề (Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Da giày): Nâng cao vai trò cầu nối, hỗ trợ doanh nghiệp hội viên cập nhật quy định pháp lý; phối hợp với cơ quan hải quan cung cấp dữ liệu về chi phí gia công trung bình, định mức kỹ thuật ngành để phục vụ công tác giám sát, cảnh báo rủi ro.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về gian lận thương mại và công tác hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu từ góc độ quản lý nhà nước của cơ quan hải quan.
  2. Luận án phân loại một cách có hệ thống 5 nhóm hình thức gian lận thương mại đặc thù trong hoạt động gia công xuất khẩu, chỉ ra các biểu hiện cụ thể của từng hành vi gắn liền với quy trình thủ tục hải quan hiện hành.
  3. Luận án xác lập khung phân tích gồm 4 tiêu chí đánh giá các biện pháp hạn chế gian lận thương mại của cơ quan hải quan (tính hiệu lực, tính khả thi, tính công khai minh bạch, tính phù hợp), làm cơ sở lý luận cho việc đo lường chất lượng quản lý hải quan đối với loại hình thương mại này.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  1. Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020, tập trung vào hai ngành hàng trọng điểm là dệt may và da giày.
  2. Đo lường khách quan cảm nhận của cả công chức hải quan (112 mẫu) và cộng đồng doanh nghiệp (132 mẫu) về mức độ khả thi, hiệu lực của các biện pháp quản lý hiện nay, chỉ ra những điểm nghẽn thực tế trong thủ tục kiểm tra cơ sở sản xuất và kiểm tra báo cáo quyết toán nguyên phụ liệu.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp nghiệp vụ và quản lý chuyên sâu, có tính thực tiễn cao dành riêng cho Tổng cục Hải quan Việt Nam cùng các kiến nghị đồng bộ gửi tới Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính và các hiệp hội ngành nghề.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung chỉ tập trung nghiên cứu sâu vào 2 nhóm ngành hàng là dệt may và da giày; chưa phân tích chi tiết các loại hình gia công thuộc nhóm ngành công nghệ cao như lắp ráp linh kiện điện tử, viễn thông.
  • Về mặt số liệu, số liệu thống kê tổng hợp về các vụ vi phạm gian lận thương mại trong hoạt động gia công mới chỉ giới hạn trong giai đoạn 2016 - 2020 do khó khăn trong việc tách bóc số liệu gia công khỏi các loại hình xuất nhập khẩu khác của ngành hải quan.
  • Phương pháp chọn mẫu khảo sát sơ cấp là phương pháp phi xác suất (chọn mẫu thuận tiện), tập trung tại các địa phương trọng điểm phía Bắc và phía Nam nên tính đại diện tổng quát cho toàn bộ các Chi cục Hải quan trên cả nước có thể chưa đạt mức tối ưu.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu sơ cấp chủ yếu dừng lại ở các chỉ tiêu thống kê mô tả (bình quân, so sánh tỷ lệ trên Microsoft Excel), chưa áp dụng các mô hình định lượng hồi quy đa biến để đo lường mức độ tác động của từng nhân tố.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành hàng gia công phức tạp khác như điện tử, máy tính, thiết bị y tế và quang học.
  • Ứng dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc các thuật toán học máy (Machine Learning) để xây dựng mô hình dự báo xác suất gian lận thương mại đối với từng tờ khai gia công dựa trên cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) của ngành hải quan.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với Tổng cục Hải quan và các Cục, Chi cục Hải quan địa phương: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc rà soát, tái thiết kế quy trình kiểm tra sau thông quan, hướng dẫn hoàn thiện thủ tục kiểm tra báo cáo quyết toán, kiểm tra cơ sở sản xuất và xây dựng tiêu chí phân luồng quản lý rủi ro đối với loại hình gia công xuất khẩu.
  • Đối với các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và giảng viên đại học: Công trình cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về gian lận thương mại trong lĩnh vực gia công, bộ công cụ thang đo khảo sát và các tài liệu tham khảo trong nước, quốc tế phục vụ giảng dạy các học phần Kinh doanh thương mại quốc tế, Quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Nghiệp vụ Ngoại thương và Quản lý Nhà nước về Hải quan.
  • Đối với cộng đồng doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Giúp các doanh nghiệp gia công dệt may, da giày nhận diện rõ các rủi ro pháp lý, hiểu đúng các yêu cầu kiểm soát của cơ quan quản lý để chủ động hoàn thiện hệ thống quản trị sổ sách kế toán, tránh các vi phạm hành chính trong quá trình thanh khoản hợp đồng gia công.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn hai ngành dệt may và da giày làm phạm vi nghiên cứu trọng tâm? Theo Báo cáo điều tra năm 2017 của Tổng cục Thống kê, dệt may và da giày là hai ngành gia công lớn nhất của Việt Nam, chiếm tới 80% tổng nguồn thu trong lĩnh vực gia công (năm 2016, phí gia công dệt may thu về 4,1 tỷ USD, chiếm 48%; giày dép thu về 2,7 tỷ USD, chiếm 32%; trong khi lắp ráp điện thoại chỉ chiếm 3,1%, máy tính 0,7%). Đồng thời, đây cũng là hai ngành hàng có chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu phức tạp, số lượng doanh nghiệp lớn và phát sinh các hành vi gian lận thương mại nhiều nhất, khó kiểm soát nhất đối với cơ quan hải quan.

2. Luận án phân loại gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu thành những nhóm hình thức nào? Luận án đã hệ thống hóa và phân loại thành 5 nhóm hình thức gian lận chính: (1) Gian lận về nguyên phụ liệu, máy móc thiết bị, vật tư tiêu hao; (2) Gian lận xuất khống trong hoạt động gia công; (3) Gian lận theo loại hình kinh doanh, chính sách mặt hàng và hồ sơ chứng từ; (4) Gian lận xuất xứ (C/O) trong hoạt động gia công xuất khẩu; (5) Gian lận chuyển giá thông qua quan hệ liên kết và kê khai trị giá hàng hóa.

3. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát điều tra sơ cấp của luận án được thực hiện như thế nào? Tác giả áp dụng công thức tính mẫu của Yamane (1967) với sai số cho phép $e = 0,1$. Đối với công chức hải quan (tổng thể $N = 9.816$), mẫu tính toán tối thiểu là 99; tác giả phát 200 phiếu, thu về 112 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 56%). Đối với doanh nghiệp gia công (tổng thể $N = 1.740$), mẫu tối thiểu là 30; tác giả phát 240 phiếu tại các địa bàn trọng điểm (Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh...), thu về 132 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 55,42%). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất.

4. Thực trạng số vụ vi phạm gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu giai đoạn 2016 - 2020 biến động ra sao? Theo số liệu thống kê được tác giả tổng hợp từ Tổng cục Hải quan, số vụ vi phạm trong hoạt động gia công xuất khẩu có xu hướng gia tăng liên tục qua các năm cả về số lượng và tính chất phức tạp. Cụ thể, năm 2016 phát hiện và xử lý 669 vụ; đến năm 2019 con số này tăng lên trên 720 vụ và năm 2020 đạt trên 800 vụ vi phạm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Mai Thanh Huyền đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về gian lận thương mại và các biện pháp hạn chế gian lận thương mại trong hoạt động gia công xuất khẩu từ góc độ quản lý nhà nước của Tổng cục Hải quan Việt Nam. Dựa trên việc phân tích thực trạng vi phạm giai đoạn 2016 - 2020 và kết quả điều tra sơ cấp từ 112 công chức hải quan và 132 doanh nghiệp thuộc hai ngành dệt may, da giày, luận án đã chỉ rõ những thành tựu đạt được cũng như các điểm nghẽn nghiệp vụ trong thủ tục kiểm tra cơ sở sản xuất và kiểm tra báo cáo quyết toán tồn kho nguyên phụ liệu. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đối với Tổng cục Hải quan và các kiến nghị chính sách đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực kiểm soát gian lận thương mại, góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và thúc đẩy hoạt động thương mại gia công quốc tế của Việt Nam phát triển bền vững.