Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lí giáo dục (mã số 62 14 05 01) của tác giả Thạch Ngọc Yến, được thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Quốc Bảo và PGS.TS. Bùi Văn Quân, mang tên: "Lí luận, thực tiễn và các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo lập luận của tác giả, trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia, giáo dục giữ vai trò chủ đạo nhằm định hướng nhận thức, hình thành nhân cách và điều chỉnh hành vi của thế hệ trẻ. Nhóm trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi, sống trong môi trường biến động, phức tạp, thiếu sự bảo bọc của gia đình và nhà trường, do đó luôn phải đối mặt với nguy cơ bị bóc lột, xâm hại và lôi kéo vào tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cướp giật, lây nhiễm bệnh qua đường tình dục và HIV/AIDS.

Vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản vị thành niên tại Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức. Giai đoạn 1975–1990, dân số Việt Nam tăng thêm 18,6 triệu người. Theo Tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999, dân số cả nước đạt 76 triệu người (đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á và thứ 13 thế giới). Số liệu y tế năm 2003 ghi nhận tình trạng nạo phá thai ở mức cao tại các đô thị lớn: Thành phố Hồ Chí Minh có 114.000 trường hợp, Hà Nội có 48.000 trường hợp, Cần Thơ có 28.000 trường hợp. Báo cáo năm 2006 của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường phát triển (CGFED) chỉ ra Việt Nam nằm trong nhóm 3 quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, với khoảng 20% ca nạo phá thai rơi vào lứa tuổi vị thành niên; tỷ lệ bà mẹ sinh con trước 18 tuổi chiếm khoảng 5% và trước 20 tuổi chiếm khoảng 15%; ước tính mỗi ngày có trên 20 ca nạo phá thai ở người trẻ, trong đó 25% chưa lập gia đình.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về trẻ em đường phố hoặc giáo dục sức khỏe sinh sản học đường, việc nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý và tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên dành riêng cho đối tượng đặc thù là trẻ em lang thang tại cộng đồng vẫn chưa được quan tâm tương xứng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của đề tài là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, góp phần phòng chống tệ nạn xã hội ở nhóm trẻ em đặc thù này.

Tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Nghiên cứu lý luận việc tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên.
  2. Phân tích thực tiễn tình hình trẻ em lang thang và hoạt động giáo dục cho nhóm trẻ em này thông qua tình hình thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Đề xuất các giải pháp tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên; trưng cầu ý kiến về tính hiện thực, tính khả thi và thử nghiệm một trong các nhóm giải pháp đã đề xuất.

Khách thể, đối tượng và giả thuyết nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình tổ chức giáo dục trẻ em lang thang.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
  • Giả thuyết nghiên cứu: Công tác tổ chức giáo dục cho trẻ em lang thang đường phố sẽ đạt được hiệu quả góp phần phòng chống tệ nạn xã hội nếu sử dụng đồng bộ các giải pháp tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trên cơ sở vận hành tối ưu cấu trúc của các tổ chức xã hội hiện có, hướng các tổ chức này vào việc triển khai hoạt động giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và hoàn cảnh sống của trẻ em lang thang.

Phạm vi và mẫu khảo sát nghiên cứu

  • Phạm vi không gian: Các địa bàn đặc thù tại Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm: khu vực nội thành trung tâm có nhiều hoạt động thương mại, du lịch và chợ đầu mối (Quận 1, Quận 3, Quận 5); khu vực tập trung đông dân nhập cư và tiểu thủ công nghiệp (Quận Tân Bình, Quận Bình Thạnh, Quận 12); khu vực ngoại thành có nhiều cơ sở sản xuất vừa và nhỏ (Huyện Hóc Môn).
  • Phạm vi đối tượng: Trẻ em lang thang đường phố trong độ tuổi từ 10 đến 16 tuổi.
  • Mẫu khảo sát thực tiễn: Tổng cộng 690 người, bao gồm:
    • Cán bộ quản lý và lực lượng giáo dục tại cộng đồng (140 người): 40 cán bộ quản lý cộng đồng; 70 cán bộ chuyên môn về công tác xã hội và bảo vệ trẻ em; 30 giáo viên, giáo dục viên và cộng tác viên.
    • Trẻ em lang thang (550 em): 400 em sống lang thang một mình hoặc theo nhóm ngoài đường phố; 120 em đang sinh sống tại các mái ấm, nhà mở; 30 em sinh sống cùng cha mẹ tại các khu nhà trọ, nhà thuê.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế

Luận án đã tổng thuật hệ thống các tài liệu, công trình khoa học và văn kiện chính sách liên quan đến trẻ em lang thang và giáo dục sức khỏe sinh sản:

Bối cảnh quốc tế và khu vực:

  • Báo cáo của UNICEF và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ước tính toàn cầu có khoảng 100 triệu trẻ em lang thang, trong đó 70% tập trung tại Châu Mỹ Latinh, Châu Phi và Châu Á. Tại Châu Á, có khoảng 25 đến 30 triệu trẻ dưới 18 tuổi đối diện nguy cơ bị đẩy vào tệ nạn mại dâm, ma túy; hàng năm ILO ước tính khoảng 12 triệu trẻ em bị buôn bán để trở thành lao động cưỡng bức hoặc bóc lột tình dục.
  • Nghiên cứu của Võ Trung Tâm (2005) về tình hình tại Manila (Philippines) ghi nhận 80.000 trẻ em lang thang và phân tích mô hình trung tâm Shelter Tahanan trợ giúp phục hồi tâm lý, định hướng giáo dục cho 300 trẻ từ 7 đến 17 tuổi.
  • Tài liệu của UNICEF tại Mông Cổ phản ánh tình trạng hơn 380 trẻ em tại thủ đô Ulaanbaatar phải sống trong hệ thống cống ngầm; tại Bangladesh, thống kê của tổ chức phi chính phủ cho thấy thủ đô Dhaka có 215.000 trẻ em gái sống lang thang; tại Nhật Bản, số liệu năm 2000 của Bộ Y tế và Xã hội phản ánh xu hướng trẻ em bỏ nhà lang thang xuất phát từ xung đột gia đình.
  • Các văn kiện quốc tế nền tảng: Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (1989), Chương trình hành động của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển tại Cairo (Ai Cập, 09/1994) và Hội nghị triển khai Sức khỏe sinh sản Châu Á tại Ấn Độ (08/1997).

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu của Timothy W. Bons (1992) về "Trẻ bụi đời tại thành phố Hồ Chí Minh" và khảo sát về trẻ em đường phố tại Hà Nội của tác giả này.
  • Nghiên cứu của Nguyễn Văn Buồm và Jonathan Caseley (1996): "Khảo sát thực trạng trẻ em đường phố tại Hà Nội", đưa ra phân loại 4 nhóm trẻ em đường phố.
  • Nguyễn Văn Thắng (2000): "Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh trung học phổ thông", tập trung vào môi trường học đường chính quy.
  • Phạm Đức Quang (2003): "Nghiên cứu các giải pháp giáo dục trẻ em lang thang Việt Nam".
  • Đỗ Thị Ngọc Phương (2004): "Cơ cấu nhóm của trẻ em lang thang và các biện pháp giáo dục thông qua nhóm".
  • Võ Trung Tâm (2005): "Trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố tại thành phố" (thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Các văn bản chính sách quốc gia: Quyết định 134/1999/QĐ-TTg, Quyết định 34/1999/CP-TTg, Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 87/CP (1995) và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam (2005).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc mô tả thực trạng xã hội học, phân loại cơ cấu nhóm hoặc đề xuất biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản trong khuôn khổ trường phổ thông. Chưa có công trình nào tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý giáo dục để xây dựng một khung giải pháp đồng bộ kết hợp giữa các lực lượng xã hội tại địa bàn đô thị, nhằm tổ chức các hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên chuyên biệt cho nhóm trẻ em lang thang đường phố, phục vụ trực tiếp mục tiêu phòng chống tệ nạn xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các lý thuyết và khái niệm khoa học quản lý, tâm lý học và xã hội học:

  • Phương pháp luận tiếp cận: Tiếp cận hệ thống (xem xét quá trình giáo dục trong mối liên hệ đa chiều giữa các phân hệ quản lý và môi trường xã hội) và tiếp cận nhân cách (tôn trọng đặc điểm phát triển tâm lý, giá trị cá nhân và tính tích cực xã hội của đối tượng).
  • Lý thuyết hoạt động: Dựa trên quan điểm tâm lý học của A. Leontiev (hoạt động là phương thức tồn tại của con người, bao gồm quá trình khách thể hóa và chủ thể hóa; đơn vị của đời sống là các hoạt động cụ thể), kết hợp các luận điểm của R. Descartes và W. James về dòng ý thức và tư tưởng.
  • Lý thuyết tổ chức và quản lý: Tiếp cận định nghĩa tổ chức của Robbins và Barnwell (thực thể xã hội phối hợp có ý thức với biên giới tương đối xác định, vận hành liên tục để đạt mục tiêu chung) và quan điểm chức năng quản lý của T. Reiley. Quá trình kiểm tra đánh giá được cụ thể hóa qua 4 bước: (1) Xác định tiêu chuẩn và phương pháp đo lường thành tựu; (2) Đo lường thành tựu thực tế; (3) Xác định mức độ phù hợp so với chuẩn mực; (4) Tiến hành các hoạt động uốn nắn, điều chỉnh.
  • Quan điểm xã hội học về tệ nạn xã hội: Vận dụng lý thuyết của Emile Durkheim về sự biến đổi các hiện tượng xã hội, tính quy phạm và sự cần thiết phải phân tích nguyên nhân để phòng ngừa các hiện tượng bệnh lý xã hội.
  • Khái niệm trẻ em và trẻ em lang thang: Định nghĩa theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2005 (Điều 3, Chương 1: Trẻ em là công dân dưới 16 tuổi; Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi cư trú không ổn định hoặc cùng gia đình đi lang thang), đối chiếu với phân loại của UNICEF và phân loại 4 nhóm của Nguyễn Văn Buồm & Jonathan Caseley (1996).
  • Khái niệm sức khỏe sinh sản và vị thành niên: Khái niệm vị thành niên theo G. Stanley Hall (1904) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: 10–19 tuổi); định nghĩa sức khỏe sinh sản theo Tuyên bố của WHO (1988) và Hội nghị Cairo (1994).
  • Khung phân tích hoạt động giáo dục: Mô hình cấu trúc gồm 2 tam giác liên kết nhân tố:
    • Tam giác 1: Mục tiêu (MT) – Nội dung (ND) – Phương pháp (PP).
    • Tam giác 2: Lực lượng giáo dục (LLGD) – Đối tượng giáo dục (ĐTGD) – Điều kiện giáo dục (ĐKGD).
Nhóm nhân tố Các thành tố cấu thành Trọng tâm quản lý
Tam giác nội dung (1) Mục tiêu (MT) - Nội dung (ND) - Phương pháp (PP) Thiết kế mục tiêu cụ thể, lựa chọn nội dung thiết thực và phương pháp giáo dục trực quan, phù hợp trình độ nhận thức.
Tam giác điều kiện (2) Lực lượng giáo dục (LLGD) - Đối tượng giáo dục (ĐTGD) - Điều kiện giáo dục (ĐKGD) Huy động phối hợp các lực lượng cộng đồng, kích thích tính tự giác của trẻ và bảo đảm cơ sở vật chất, tài chính hỗ trợ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng và thử nghiệm thực tiễn:

  1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa các văn bản quy phạm pháp luật, công trình khoa học để xây dựng khung lý thuyết.
  2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng bảng hỏi (xã hội học): Khảo sát 140 cán bộ quản lý, chuyên viên, giáo dục viên và 550 trẻ em lang thang tại các địa bàn nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi, biểu hiện nhân cách và mức độ tham gia của trẻ em lang thang trong các hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp 3 cán bộ quản lý cộng đồng, 5 giáo dục viên/cộng tác viên và 10 trẻ em lang thang có hoàn cảnh khó khăn nhằm làm rõ thuận lợi, khó khăn và rào cản tiếp cận.
    • Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): Phân tích sâu các trường hợp trẻ em lang thang giữ vững nhân cách, vượt khó không sa vào tệ nạn xã hội.
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực khoa học quản lý giáo dục.
    • Phương pháp thử nghiệm: Thử nghiệm kiểm chứng giải pháp tác động tại thực địa.
  3. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các kỹ thuật thống kê để xử lý và phân tích số liệu thu thập từ các phiếu điều tra.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận, pháp lý và kinh nghiệm thực tiễn:

  • Điểm luận bối cảnh quốc tế và thực trạng tại Việt Nam về tệ nạn xã hội tác động đến trẻ em lang thang (mại dâm, lạm dụng tình dục, ma túy, cướp giật).
  • Hệ thống hóa các khái niệm: trẻ em, trẻ em lang thang, tổ chức, hoạt động giáo dục, sức khỏe sinh sản, vị thành niên (giai đoạn 10–19 tuổi với sự thay đổi thể chất, tâm sinh lý dậy thì và 5 lĩnh vực cần quan tâm khi tiếp cận).
  • Phân tích cơ sở pháp lý bao gồm: Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (1989), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam (2005), Bộ luật Hình sự số 18/1999/QH10 (chương riêng quy định về xử lý người chưa thành niên phạm tội theo nguyên tắc giáo dục, phòng ngừa), Quyết định 134/1999/QĐ-TTg, Quyết định 34/1999/CP-TTg, Quyết định 19/2004/QĐ-TTg và Nghị định 87/CP (1995).
  • Khái quát hóa kinh nghiệm quản lý và giáo dục trẻ em đường phố tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (Philippines) và thế giới.
  • Xây dựng mô hình phối hợp tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên gồm các khâu: phân tích bối cảnh/đối tượng; xác định mục tiêu; thiết kế nội dung; lựa chọn hình thức, phương pháp; huy động nhân lực, vật lực, tài chính; tổ chức phối hợp lực lượng và kiểm tra đánh giá.

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên trong hoàn cảnh hiện nay: Phân tích tình hình tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương này phân tích thực trạng kinh tế - xã hội, diễn biến của tệ nạn xã hội và công tác tổ chức giáo dục trẻ em lang thang tại Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Khái quát số liệu quản lý: Báo cáo thực hiện Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh đến tháng 10/2006 đã giúp đỡ 570 trẻ hồi gia, hỗ trợ dạy nghề cho 800 trẻ (trong đó 270 trẻ có việc làm ổn định). Số liệu báo cáo của 24 quận/huyện tính đến tháng 03/2009 ghi nhận 1.875 trẻ em lang thang, trong đó Quận 1 tập trung nhiều nhất với 375 em, Quận Bình Thạnh có 38 em, Quận Tân Phú có 27 em.
  • Trình bày dữ liệu khảo sát từ 140 cán bộ quản lý, giáo dục viên, cộng tác viên và 550 trẻ em lang thang phân bổ theo các nhóm đối tượng:
Nhóm đối tượng khảo sát Số lượng (người) Cơ cấu phân loại
Cán bộ, lực lượng giáo dục 140 • Cán bộ quản lý cộng đồng: 40
• Cán bộ chuyên môn (CTXH, trẻ em): 70
• Giáo viên, giáo dục viên, cộng tác viên: 30
Trẻ em lang thang 550 • Sống một mình hoặc theo nhóm ngoài đường phố: 400
• Sống tại mái ấm, nhà mở: 120
• Sống cùng cha mẹ tại nhà trọ, nhà thuê: 30
  • Đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ của trẻ em lang thang đối với các vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên, quan hệ tình dục không an toàn, nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và tệ nạn ma túy.
  • Phân tích năng lực chuyên môn, sự phối hợp giữa các lực lượng (cán bộ chuyên trách trẻ em, giáo dục viên, mạng lưới cộng tác viên cộng đồng) và chỉ ra những bất cập trong việc quản lý, theo dõi số trẻ hồi gia (thiếu tính bền vững, tình trạng tái lang thang vào dịp hè).

Chương 3: Giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên

Chương này đề xuất hệ thống giải pháp và tiến hành kiểm chứng thực nghiệm:

  • Xác lập 4 nguyên tắc định hướng:
    1. Nguyên tắc bảo đảm tính định hướng chung trong tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang.
    2. Nguyên tắc tôn trọng các đặc điểm tâm lý – xã hội của trẻ em lang thang.
    3. Nguyên tắc phối hợp và phát huy thế mạnh của các lực lượng giáo dục.
    4. Nguyên tắc bảo đảm tính hiện thực và tính khả thi.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý:
    1. Giải pháp 1: Phát huy vai trò của các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang (nâng cao năng lực cán bộ quản lý cộng đồng, giáo dục viên, cộng tác viên công tác xã hội).
    2. Giải pháp 2: Hoàn thiện mô hình tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên (tổ chức các câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng, lồng ghép nội dung tại mái ấm, nhà mở và địa bàn đường phố).
    3. Giải pháp 3: Tăng cường các điều kiện hỗ trợ giáo dục trẻ em lang thang (đảm bảo nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, tài liệu tuyên truyền trực quan, dịch vụ tư vấn tâm lý và y tế thân thiện).
    4. Giải pháp 4: Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền trẻ em; kịp thời động viên, tôn vinh các tấm lòng nhân ái và tổ chức xã hội hỗ trợ các em.
  • Kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm: Trưng cầu ý kiến chuyên gia, cán bộ quản lý về tính cấp thiết, tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp; triển khai thử nghiệm giải pháp trên nhóm trẻ em lang thang tại địa bàn để đánh giá sự chuyển biến về nhận thức và hành vi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục áp dụng cho đối tượng đặc thù ngoài nhà trường: xác định bản chất, chức năng, nguyên tắc và mô hình phối hợp các lực lượng xã hội trong tổ chức hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang.
  • Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa việc trang bị kiến thức, kỹ năng bảo vệ sức khỏe sinh sản vị thành niên với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và phòng chống sự lây lan của các tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm, tội phạm vị thành niên).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực trạng có số liệu xác thực về tình hình trẻ em lang thang, đời sống, nhận thức về sức khỏe sinh sản và công tác quản lý giáo dục đối với nhóm đối tượng này tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp có cơ sở khoa học, được khảo nghiệm về tính khả thi và thử nghiệm thực tế, có khả năng áp dụng trực tiếp tại các trung tâm bảo trợ xã hội, mái ấm, nhà mở và các ban ngành quản lý trẻ em tại địa phương.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục, cán bộ công tác xã hội trong việc xây dựng bài giảng, chương trình truyền thông, tư vấn cho gia đình và cộng đồng nhằm phòng ngừa nguy cơ sa vào tệ nạn xã hội cho trẻ em.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Địa bàn khảo sát thực tiễn tập trung chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh (một số quận nội thành, ven đô và huyện ngoại thành), chưa bao quát toàn bộ các vùng miền khác trên cả nước.
  • Khách thể khảo sát trẻ em lang thang bị giới hạn trong khung tuổi từ 10 đến 16 tuổi; chưa nghiên cứu sâu nhóm thanh thiếu niên đường phố từ 16 đến dưới 18 tuổi.
  • Dữ liệu về việc đưa trẻ hồi gia cho thấy tính bền vững còn nhiều thách thức do điều kiện kinh tế gia đình ở các tỉnh xuất cư chưa được giải quyết triệt để.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và ứng dụng mô hình tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản sang các đô thị lớn khác và các vùng nông thôn, miền núi có nguy cơ trẻ em bỏ nhà đi lang thang cao.
  • Nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề gắn liền với giáo dục pháp luật và kỹ năng sống để duy trì kết quả hồi gia bền vững cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng và đơn vị chuyên môn:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ khoa học cho ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách can thiệp, phòng ngừa tệ nạn xã hội và bảo vệ quyền trẻ em theo Quyết định 19/2004/QĐ-TTg.
  • Cán bộ quản lý giáo dục và nhân viên công tác xã hội: Tài liệu hướng dẫn phương pháp tổ chức hoạt động truyền thông, tư vấn sức khỏe sinh sản, tiếp cận nhóm trẻ em đường phố và phương thức quản lý tại các mái ấm, nhà mở, cơ sở bảo trợ xã hội.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp khung lý thuyết, công cụ nghiên cứu thực tiễn và mô hình phối hợp liên ngành (quản lý giáo dục, xã hội học, tâm lý học lứa tuổi) để tiếp tục phát triển các đề tài liên quan đến giáo dục đối tượng thiệt thòi.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định độ tuổi của trẻ em lang thang được nghiên cứu trong giới hạn nào?

Căn cứ theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2005 (quy định trẻ em là công dân dưới 16 tuổi), luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn ở nhóm trẻ em lang thang đường phố có độ tuổi từ 10 tuổi đến 16 tuổi.

2. Số lượng và cơ cấu mẫu khảo sát thực tiễn của luận án gồm những ai?

Tổng số mẫu khảo sát là 690 người, gồm hai nhóm:

  • 140 cán bộ, giáo dục viên (40 cán bộ quản lý cộng đồng, 70 cán bộ chuyên môn công tác xã hội/bảo vệ trẻ em, 30 giáo viên/cộng tác viên).
  • 550 trẻ em lang thang (400 em sống ngoài đường phố một mình hoặc theo nhóm, 120 em sống tại mái ấm/nhà mở, 30 em sống cùng gia đình tại nhà trọ/thuê).

3. Tình trạng nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên tại Việt Nam được tác giả trích dẫn số liệu từ những nguồn nào?

Tác giả dẫn số liệu năm 2003 của Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em ghi nhận 114.000 ca nạo phá thai tại Thành phố Hồ Chí Minh, 48.000 ca tại Hà Nội, 28.000 ca tại Cần Thơ. Báo cáo năm 2006 của CGFED ghi nhận 20% người nạo phá thai ở lứa tuổi vị thành niên và khoảng 5% bà mẹ sinh con trước 18 tuổi.

4. Bốn nhóm giải pháp tổ chức giáo dục được tác giả đề xuất tại Chương 3 là gì?

  1. Phát huy vai trò của các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang thang.
  2. Hoàn thiện mô hình tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
  3. Tăng cường các điều kiện hỗ trợ giáo dục (nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất, tài liệu).
  4. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm quyền trẻ em và tôn vinh các tấm lòng nhân ái hỗ trợ trẻ em.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Thạch Ngọc Yến đã làm sáng tỏ hệ thống cơ sở lý luận về quản lý và tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên dành cho trẻ em lang thang đường phố nhằm phục vụ mục tiêu phòng chống tệ nạn xã hội. Dựa trên việc phân tích số liệu thực tiễn và khảo sát 690 đối tượng tại Thành phố Hồ Chí Minh, công trình đã đề xuất hệ thống 4 nguyên tắc và 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ, khả thi. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cho công tác quản lý giáo dục, hoạch định chính sách an sinh xã hội và chăm sóc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.