Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo thống kê lao động việc làm năm 2018, khu vực nông thôn Việt Nam chiếm khoảng 67,8% lực lượng lao động cả nước, đồng thời chiếm tới 86,0% tổng số lao động thiếu việc làm trên toàn quốc. Tại tỉnh Bắc Kạn, một địa phương miền núi với trên 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, vấn đề sinh kế và giải quyết việc làm luôn là thách thức hàng đầu đối với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Huyện Ba Bể có quy mô dân số đạt 47.788 người vào năm 2018, trong đó 95% là đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông; lực lượng lao động chiếm 55,9% dân số với 28.728 người. Mặc dù sở hữu tiềm năng lớn về tài nguyên du lịch sinh thái hồ Ba Bể và diện tích đất lâm nghiệp phong phú, nền kinh tế địa phương vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp thuần túy mang tính tự cung tự cấp.

Vấn đề cốt lõi tại địa bàn là tình trạng thiếu việc làm mang tính mùa vụ sâu sắc và tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề còn rất cao, chiếm từ 78,7% đến 80,5% tổng số lao động toàn huyện. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Phát triển nông thôn của tác giả Lý Thị Chuyên được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đào Thanh Vân tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, nhằm đánh giá thực trạng lao động, phân tích những rào cản cản trở quá trình tạo việc làm và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2016 – 2018. Nghiên cứu hướng đến việc hỗ trợ huyện thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên mức 80% vào năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách chuyển dịch cơ cấu việc làm vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết việc làm và thất nghiệp hiện đại của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), kết hợp với các quan điểm pháp lý trong Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Theo khung lý thuyết của ILO, người thiếu việc làm được đo lường thông qua hệ số sử dụng thời gian lao động (tổng số giờ làm việc thực tế trên tuần dưới 40 giờ) và mức thu nhập thực tế dưới chuẩn mức lương tối thiểu. Các khái niệm trọng tâm được vận hành xuyên suốt đề tài bao gồm: lao động nông thôn, việc làm phi nông nghiệp, thiếu việc làm hữu hình, thiếu việc làm vô hình và giải quyết việc làm theo nghĩa rộng.

Bên cạnh đó, tác giả tiếp thu lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế hai tầng (Dual-Economy Model) từng được ứng dụng thành công tại Nhật Bản, kết hợp bài học phát triển xí nghiệp hương trấn tạo việc làm cho 92,6 triệu lao động nông thôn tại Trung Quốc giai đoạn 1978 – 1990, cùng mô hình liên kết tam giác giữa Nhà nước – Doanh nghiệp – Hộ gia đình của Thái Lan. Mô hình nghiên cứu tổng hợp các nhân tố tác động đến khả năng tạo việc làm tại vùng cao, bao gồm: điều kiện tự nhiên, trình độ học vấn, kỹ năng chuyên môn kỹ thuật, quy mô vốn sản xuất kinh doanh và các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên để thu thập dữ liệu sơ cấp với quy mô mẫu là 150 hộ gia đình (150 lao động), đảm bảo tính đại diện thống kê cho 3 vùng sinh thái kinh tế đặc trưng của huyện Ba Bể. Cụ thể, mẫu điều tra phân bổ đồng đều tại 3 địa bàn: xã Yến Dương (50 hộ) đại diện cho vùng phía Nam có thế mạnh về lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc; xã Khang Ninh (50 hộ) đại diện cho vùng phía Tây có tỷ lệ phát triển ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ du lịch cao; xã Hà Hiệu (50 hộ) đại diện cho vùng phía Đông với cánh đồng bằng phẳng chuyên canh nông nghiệp.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Ba Bể giai đoạn 2016 – 2018, các báo cáo chuyên đề của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Tác giả áp dụng phối hợp các phương pháp phân tích thống kê kinh tế (phân tổ, tính số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân), phương pháp so sánh chuỗi thời gian 3 năm liên tiếp và phương pháp cân đối lao động. Ngoài ra, công cụ ma trận SWOT được sử dụng để đánh giá toàn diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác giải quyết việc làm tại địa phương. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp bảo đảm tính khách quan, phản ánh chính xác tương quan giữa trình độ chuyên môn, khả năng tiếp cận vốn và mức thu nhập của người lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực tế tại huyện Ba Bể giai đoạn 2016 – 2018 đã mang lại những phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, cơ cấu lao động theo ngành nghề có sự chuyển dịch tích cực nhưng tốc độ còn chậm. Tỷ lệ lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản giảm từ 67,58% năm 2016 xuống 64,72% năm 2018 (giảm 2,86%). Ngược lại, tỷ trọng lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng từ 15,37% lên 16,47%, và lĩnh vực thương mại – dịch vụ tăng từ 17,05% lên 18,81%.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương còn nhiều bất cập. Số liệu khảo sát 150 lao động cho thấy có tới 46,58% người lao động hoàn toàn không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Thống kê toàn huyện phản ánh tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề luôn ở mức cao, dao động từ 78,7% đến 80,5%.

Thứ ba, lực lượng lao động nông thôn có cơ cấu tuổi trẻ nhưng phụ thuộc lớn vào việc làm thuần nông. Nhóm lao động trong độ tuổi 20 – 29 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,73%, nhóm trên 50 tuổi chỉ chiếm 4,11%. Về ngành nghề sản xuất, có đến 71,9% lao động làm thuần nông, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp chiếm 23,3%, các ngành nghề khác chỉ chiếm 4,8%.

Thứ tư, thu nhập của người lao động nông thôn ở mức rất thấp và có sự phân hóa mạnh theo trình độ. Tỷ lệ lao động có thu nhập dưới 1.000.000 đồng/tháng chiếm tới 39,0% (mức thấp nhất ghi nhận là 550.000 đồng/tháng); nhóm thu nhập từ 1.000.000 đến 2.000.000 đồng/tháng chiếm 41,8%; chỉ có 19,2% lao động đạt mức thu nhập trên 2.000.000 đồng/tháng (mức cao nhất là 4.500.000 đồng/tháng).

Cơ cấu thu nhập của lao động khảo sát tại huyện Ba Bể:

Thảo luận kết quả

Dữ liệu khảo sát chứng minh mối quan hệ nhân quả chặt chẽ giữa trình độ chuyên môn kỹ thuật và mức thu nhập của người lao động. Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ tương quan, nhóm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp, cao đẳng, đại học đạt tỷ lệ thu nhập trên 2.000.000 đồng/tháng cao gấp 3,2 lần so với nhóm lao động chưa qua đào tạo. Đồng thời, biểu đồ phân tích thời gian làm việc chỉ ra rằng lao động thuần nông chỉ sử dụng khoảng 65% – 70% quỹ thời gian làm việc hàng năm do tính mùa vụ đặc thù của sản xuất nông nghiệp miền núi, dẫn đến hiện tượng thiếu việc làm hữu hình kéo dài.

Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên bắt nguồn từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương còn chậm, hạ tầng giao thông kết nối liên xã còn khó khăn và mạng lưới trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm chưa phát triển. Các cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm sản tại chỗ quy mô nhỏ bé, chưa tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp. Kết quả này tương đồng với các kết luận trong công trình nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, đồng thời khẳng định luận điểm của các chuyên gia về mối liên hệ hữu cơ giữa việc nâng cao chất lượng lao động với giải quyết việc làm bền vững trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết hiệu quả bài toán việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn tại huyện Ba Bể, hệ thống giải pháp cụ thể được đề xuất như sau:

Thứ nhất, tổ chức đào tạo nghề linh hoạt gắn chặt với quy hoạch sản xuất địa phương. Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện thực hiện đào tạo mới từ 250 đến 300 lao động mỗi năm trong giai đoạn 2019 – 2025. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ thuật thâm canh cây đặc sản (hồng không hạt, cam quýt, dong riềng), chăn nuôi đại gia súc và kỹ năng phục vụ du lịch sinh thái cộng đồng, hướng tới nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mức 80%.

Thứ hai, mở rộng kinh tế tập thể và phát triển các chuỗi liên kết hợp tác xã phi nông nghiệp. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chủ trì xây dựng 5 đến 8 mô hình hợp tác xã kiểu mới, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như chế biến miến dong, sản xuất vật liệu xây dựng, thêu dệt thổ cẩm bản địa. Mục tiêu nâng tỷ trọng lao động làm việc trong khối dịch vụ – du lịch và tiểu thủ công nghiệp từ mức 23,3% lên trên 35% vào năm 2025, tạo việc làm ổn định cho hơn 1.500 lao động nông nhàn.

Thứ ba, tối ưu hóa nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ các chương trình mục tiêu quốc gia. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện phối hợp cùng Hội Nông dân và Hội Phụ nữ tăng cường giải ngân nguồn vốn từ Chương trình 30a (quy mô trên 5 tỷ đồng) và Chương trình 135 (quy mô trên 2 tỷ đồng). Ưu tiên hỗ trợ cho vay lãi suất thấp đối với 100% hộ gia đình nghèo và cận nghèo có phương án phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi trâu bò sinh sản, trồng cây ăn quả chất lượng cao.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tư vấn thị trường và xuất khẩu lao động có thời hạn. Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện chủ động liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động uy tín, định kỳ tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động tại các xã vùng sâu. Phấn đấu đạt chỉ tiêu đưa tối thiểu 70 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài mỗi năm, mang lại nguồn thu nhập bình quân từ 15 đến 25 triệu đồng/người/tháng, đóng góp trực tiếp vào công tác giảm nghèo bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại các cơ quan như Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, phân bổ ngân sách các chương trình mục tiêu quốc gia và điều chỉnh quy hoạch việc làm cấp cơ sở.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Xã hội học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tiếp cận điều tra xã hội học, kỹ thuật phân tầng mẫu và cách ứng dụng ma trận SWOT trong nghiên cứu thị trường lao động nông thôn.

Thứ ba, ban quản trị các hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hiệp hội nghề nghiệp tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Dữ liệu luận văn giúp nhận diện tiềm năng cung ứng lao động địa phương, từ đó thiết kế các mô hình liên kết gia công, sản xuất nông sản và dịch vụ du lịch phù hợp với trình độ người dân.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và đơn vị điều phối dự án phát triển cộng đồng đang triển khai các dự án sinh kế, nâng cao quyền năng kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực Đông Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Đặc điểm nổi bật nhất của lực lượng lao động tại huyện Ba Bể giai đoạn 2016 – 2018 là gì?
Lực lượng lao động tại Ba Bể mang tính chất trẻ trung với 39,73% thuộc độ tuổi 20 – 29 tuổi và 95,89% dưới 50 tuổi. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất là chất lượng chuyên môn rất thấp khi có tới 46,58% lao động khảo sát không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, và tỷ lệ chưa qua đào tạo nghề toàn huyện dao động từ 78,7% đến 80,5%.

Tại sao tỷ lệ lao động có thu nhập dưới 1 triệu đồng/tháng tại địa bàn khảo sát chiếm tới 39,0%?
Nguyên nhân chủ yếu do 71,9% lao động làm việc trong khu vực thuần nông với quy mô manh mún, phụ thuộc nặng nề vào điều kiện tự nhiên. Tính chất mùa vụ khiến người nông dân chỉ khai thác được 65% – 70% thời gian làm việc trong năm, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm và năng suất lao động rất thấp.

Phương pháp chọn mẫu 150 hộ tại 3 xã có bảo đảm độ tin cậy khoa học không?
Cỡ mẫu 150 hộ được phân bổ đều cho 3 xã Yến Dương, Khang Ninh và Hà Hiệu đại diện trọn vẹn cho 3 tiểu vùng kinh tế sinh thái của huyện: vùng lâm nghiệp phía Nam, vùng dịch vụ du lịch phía Tây và vùng thuần nông phía Đông. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng này đáp ứng đầy đủ tính đại diện thống kê cho tổng thể địa bàn nghiên cứu.

Luận văn sử dụng những công cụ phân tích nào để lượng hóa thực trạng việc làm?
Nghiên cứu áp dụng đồng bộ phương pháp thống kê phân tổ kinh tế, phương pháp so sánh chuỗi biến động số liệu 3 năm (2016 – 2018), phương pháp cân đối thời gian lao động theo chuẩn ILO và phương pháp ma trận SWOT để nhận diện toàn diện điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cùng thách thức của thị trường lao động địa phương.

Chương trình chính sách nào đóng vai trò đòn bẩy tài chính quan trọng nhất cho huyện Ba Bể?
Hai chương trình mục tiêu quốc gia gồm Chương trình 30a (ngân sách hỗ trợ sản xuất trên 5 tỷ đồng) và Chương trình 135 (ngân sách trên 2 tỷ đồng) đóng vai trò nòng cốt. Nguồn vốn này đã tài trợ trực tiếp cho hàng chục dự án trồng cây đặc sản, chăn nuôi trâu bò sinh sản, tạo nền tảng chuyển dịch cơ cấu việc làm tại chỗ.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những đóng góp cốt lõi:

  • Đánh giá toàn diện thực trạng lực lượng lao động huyện Ba Bể quy mô 28.728 người, chỉ rõ sự chuyển dịch cơ cấu lao động ngành nông lâm thủy sản từ 67,58% (2016) xuống 64,72% (2018).
  • Lượng hóa chính xác rào cản chất lượng nguồn nhân lực với 46,58% lao động khảo sát thiếu trình độ chuyên môn kỹ thuật và 39,0% có mức thu nhập dưới 1.000.000 đồng/tháng.
  • Xác định nguyên nhân thiếu việc làm xuất phát từ tính thời vụ cao của nông nghiệp thuần túy (chiếm 71,9% mẫu khảo sát) và sự hạn chế của hạ tầng dịch vụ việc làm.
  • Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn gồm: đào tạo nghề 250 – 300 lao động/năm, phát triển hợp tác xã phi nông nghiệp, tận dụng nguồn vốn Chương trình 30a/135 và đẩy mạnh xuất khẩu 70 lao động/năm.
  • Đóng góp cơ sở khoa học giúp địa phương thực hiện lộ trình giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 80% vào năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến 2025, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất của luận văn thành các chương trình hành động cụ thể. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và các đơn vị quản lý quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu tại Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – Đại học Thái Nguyên để ứng dụng vào công tác thực tiễn và phát triển các công trình khoa học tiếp theo.