Chương 1:Cơ sở lý luận về công tác đào tạo nguồn nhân lực cán bộ đoàn. Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo cán bộ đoàn cấp huyện tại tỉnh Thanh Hóa. Chương 3:Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo cán bộ đoàn cấp huyện tại tỉnh Thanh Hóa 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CÁN BỘ ĐOÀN Một s á n ệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ và cán bộ đoàn Theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Nhƣ Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội năm 1999 cán bộ đƣợc hiểu là ngƣời làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nƣớc hoặc ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan chính quyền một tổ chức phân biệt với ngƣời thƣờng không có chức vụ.
Trong từ điển Tiếng Việt khái niệm Cán bộ đƣợc hiểu nhƣ sau: Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, đảng và đoàn thể. hoản 1 Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam đƣợc bầu cử phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam Nhà nƣớc tổ chức chính trị-xã hội ở trung ƣơng cấp tỉnh cấp huyện trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc”. Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ. Những ngƣời đủ các tiêu chí chung của CBCC mà đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng Nhà nƣớc tổ chức chính trị-xã hội thông qua bầu cử phê chuẩn bổ nhiệm chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì đƣợc xác định là cán bộ.
Căn cứ Luật Cán bộ Công chức năm 2008 cán bộ đƣợc hiểu là những ngƣời có trình độ chuyên môn nghiệp vụ làm việc trong các cơ quan của Đảng Nhà nƣớc các tổ chức chính trị - xã hội và lực lƣợng vũ trang; những ngƣời giữ chức vụ trong các tổ chức cơ quan đó. Theo quan niệm này thì cán 6 bộ đoàn gồm số cán bộ đƣợc bầu cử giữ các chức vụ trong tổ chức Đoàn và cán bộ đƣợc tuyển dụng và làm việc tại các cơ quan chuyên trách của Đoàn. Nhƣ vậy còn rất nhiều cán bộ đoàn không hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc nhƣng không đƣợc điều chỉnh bởi văn bản này nhƣ cán bộ đoàn làm trong các doanh nghiệp tƣ nhân phó bí thƣ đoàn xã phƣờng ủy viên BCH Đoàn cơ sở các chức danh của chi đoàn. Theo Quyết định số 289-QĐ/TW ngày 08/2/2010 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng về việc ban hành Quy chế Cán bộ đoàn TNCS Hồ Chí inh cán bộ đoàn là những ngƣời giữ chức danh bí thƣ chi đoàn; phó bí thƣ bí thƣ đoàn cấp cơ sở trở lên; Những ngƣời làm việc trong các cơ quan chuyên trách của Đoàn và trực tiếp làm công tác Đoàn Hội Đội phong trào thanh thiếu nhi từ cấp huyện và tƣơng đƣơng trở lên.
Đối với cán bộ đoàn trong lực lƣợng vũ trang gồm: Trợ lý thanh niên cán bộ ban công tác thanh niên từ cấp trên cơ sở đến toàn quân; uỷ viên ban công tác thanh niên các cấp trong Công an nhân dân. Nhƣ vậy theo quan niệm trong Quy chế này có nhiều ngƣời là cán bộ đoàn nhƣng không đƣợc thừa nhận nhƣ những ngƣời đƣợc bầu giữ các chức vụ: Ủy viên ban thƣờng vụ ủy viên ban chấp hành Đoàn cơ sở; Phó bí thƣ chi đoàn ủy viên BCH chi đoàn. Có quan niệm khác cho rằng cán bộ đoàn là những ngƣời hoạt động trong tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí inh trực tiếp thực hiện công tác vận động tập hợp đoàn kết giáo dục thanh thiếu nhi và xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh theo đƣờng lối chính sách của Đảng pháp luật của Nhà nƣớc và Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí inh. Theo khái niệm này không phân biệt đƣợc giữa cán bộ đoàn và đoàn viên; không phân biệt đƣợc ngƣời có chức danh chức vụ và ngƣời không có chức danh.
Những khái niệm trên đều có những điểm hạn chế vì vậy cần thống nhất quan niệm sau: Cán bộ đoàn là những ngƣời đƣợc bầu giữ các chức danh nhất định trong hệ thống của Đoàn TNCS Hồ Chí inh và những ngƣời đƣợc 7 tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan chuyên trách của Đoàn các cấp. Theo quan niệm này cán bộ đoàn có hai loại bao gồm: ột là những ngƣời đƣợc bầu giữ các chức danh chức vụ nhất định trong hệ thống tổ chức của Đoàn. Nghĩa là những ngƣời này phải nắm giữ một chức vụ nhất định trong hệ thống tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí inh từ ủy viên ban chấp hành chi đoàn trở lên đã đƣợc gọi là cán bộ đoàn. Hai là những ngƣời đƣợc tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan của Đoàn TNCS Hồ Chí inh các cấp.
Đây là những ngƣời làm công tác chuyên môn nghiệp vụ tham mƣu giúp việc nhƣng không hoặc chƣa đƣợc bầu giữ những chức danh chức vụ nào trong hệ thống tổ chức của Đoàn. Trong bài viết này chỉ đề cập đến cán bộ đoàn là những ngƣời đƣợc bầu giữ các chức danh chức vụ nhất định trong hệ thống tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí inh để phân biệt với những ngƣời không giữ chức vụ. Đặc điểm của đội ngũ cán bộ đoàn Cán bộ đoàn là ngƣời nhiệt tình với công tác xã hội chăm lo lợi ích quần chúng thanh niên. Nét đặc trƣng này phản ánh sở thích năng khiếu lòng say mê hoạt động chính trị - xã hội trong thanh niên.
Chính đặc điểm này giúp ngƣời cán bộ đoàn tận tụy với công việc mà không toan tính “đƣợc - mất” về lợi ích vật chất. Đó cũng chính là cơ sở là tiêu chí để quần chúng thanh niên phát hiện suy tôn họ gửi gắm và lựa chọn ngƣời xứng đáng đảm nhận công việc chung của tổ chức. Đồng thời cũng chính là tiêu chuẩn để đánh giá toàn bộ hoạt động của ngƣời cán bộ đoàn ở những cƣơng vị công tác khác nhau trong hệ thống tổ chức của Đoàn. Đặc điểm trên là nhân tố quan trọng giúp cán bộ đoàn vƣợt qua mọi khó khăn thủ thách trong công việc và trong cuộc sống hằng ngày kính thích sự hứng thú say mê sáng tạo trong hoạt động tập thể và giúp họ thành đạt trong việc tiếp cận động viên thuyết phục vận động thanh niên nhất là các đối tƣợng thanh niên đặc thù.
8 - Cán bộ đoàn là những ngƣời trẻ tuổi đây là nét đặc trƣng mang tính đặc thù trong hệ thống tổ chức Đoàn tổ chức của những ngƣời cộng sản trẻ tuổi. Cán bộ đoàn đòi hỏi phải trẻ cả về tuổi đời cả về tƣ duy và tâm hồn. Thông thƣờng thì năng động sáng tạo nhiệt tình có thể lực trí tuệ tốt hăng hái tích cực tham gia các hoạt động khắc phục mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Nhƣng trẻ thƣờng ít kinh nghiệm do vậy cán bộ đoàn đòi hỏi phải thƣờng xuyên rèn luyện thông qua đi cơ sở tích cực trong hoạt động thực tiễn khiêm tốn học hỏi kinh nghiệm của những cán bộ đã trƣởng thành từ công tác Đoàn và từ phong trào thanh thiếu nhi.
Tuy nhiên nếu chỉ trẻ về tuổi đời mà tâm hồn phong cách lại quá “già cỗi” thì khó có thể tiếp cận đƣợc với thanh niên. Nét đặc trƣng này là yếu tố quan trọng quyết định sự hòa nhập của ngƣời cán bộ đoàn với các đối tƣợng thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau với cả hai khía cạnh: ột là cán bộ đoàn phải trẻ tuổi. Hai là cán bộ đoàn phải là những ngƣời dễ gần dễ mến chân thành cởi mở dễ hòa nhập với thanh niên là ngƣời bạn đồng hành của thanh niên. Ngƣời cán bộ đoàn phải có hiểu biết sâu sắc về đối tƣợng quần chúng thanh niên.
ột trong những vấn đề cơ bản trong công tác thanh niên là phải hiểu đƣợc thanh niên hiểu đƣợc nội dung công tác thanh niên trong từng giai đoạn. Đối với cán bộ đoàn phƣơng pháp công tác muốn đạt hiệu quả cao cần phải hiểu đối tƣợng tác động; đoàn viên thanh niên cần ngƣời cán bộ biết lắng nghe thấu hiểu điều họ nói; hiểu tâm lý nắm bắt đƣợc nhu cầu sở thích năng khiếu và diễn biến tƣ tƣởng tâm lý của họ; có khả năng điều tra phân tích tổng hợp các ý kiến từ quần chúng thanh niên để có biện pháp chỉ đạo tốt hơn hƣớng về cơ sở. Ngƣời cán bộ đoàn có kỹ năng công tác thanh thiếu niên nghiệp vụ xây dựng Đoàn phƣơng pháp công tác Đội. Đây là nét đặc trƣng nổi bật nhất của ngƣời cán bộ đoàn.
Đó là khả năng thiết kế óc tổ chức các hoạt động và nghệ 9 thuật giao tiếp ứng xử. Công tác Đoàn công tác thanh niên không thể bắt đầu chỉ bằng văn bản mà có khi khởi xƣớng từ một sự kiện một hoạt động một chƣơng trình cụ thể hoặc một điển hình thực tế. Nghệ thuật châm ngòi cổ vũ và thúc đẩy thành phong trào hành động cách mạng của quần chúng thanh niên là đặc điểm riêng của các hoạt động chính trị – xã hội. Tổ chức Đoàn chỉ có thể hoạt đông tốt nếu có một đội ngũ cán bộ đoàn có kỹ năng nghiệp vụ năng động biết lựa chọn công việc biết thiết kế và triển khai chỉ đạo tổ chức thực hiện.
Xuất phát từ nét đặc trƣng này mà hằng năm đội ngũ cán bộ đoàn cần đƣợc bồi dƣỡng tập huấn hơn nữa cần đƣợc đào tạo theo một chƣơng trình bắt buộc. Cán bộ đoàn có năng lực là ngƣời biết tranh thủ sự ủng hộ biết xây dựng và mở rộng các mối quan hệ để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội đối với công tác thanh niên. Ngƣời cán bộ đoàn muốn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình không chỉ phát huy nỗ lực sức mạnh từ tổ chức Đoàn mà cần tranh thủ tối đa sự ủng hộ của các ban ngành đoàn thể các tổ chức kinh tế – xã hội đối với công tác Đoàn và phong trào thánh niên nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Đặc trƣng này xuất phát từ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác thanh niên là toàn xã hội phải có trách nhiệm chăm sóc bảo vệ giáo dục đào tạo thế hệ trẻ.
Tuy nhiên mỗi ban ngành đoàn thể khác nhau đều có chức năng riêng với đối tƣợng tác động riêng. Vì vậy sự quan tâm của họ đối với công tác thanh niên biến thành hành động cụ thể thì nhất thiết ngƣời cán bộ đoàn phải tích cực chủ động tham mƣu đề xuất có chƣơng trình phối hợp liên kết.