Tổng quan nghiên cứu
Suy hô hấp cấp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong sớm trong giai đoạn sơ sinh từ 0 đến 7 ngày tuổi. Theo thống kê y tế toàn cầu của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc, tỷ lệ tử vong sơ sinh đã giảm từ 36,6 phần nghìn năm 1990 xuống còn 18 phần nghìn năm 2017. Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong sơ sinh được ghi nhận ở mức 12 phần nghìn vào năm 2014, trong đó suy hô hấp chiếm tỷ trọng đáng kể. Ước tính có khoảng 7% trẻ sơ sinh gặp phải các biến cố suy hô hấp sau sinh, với nguy cơ tử vong ở nhóm bệnh lý này cao gấp 2 đến 4 lần so với nhóm trẻ bình thường. Tỷ lệ tử vong do suy hô hấp sơ sinh dao động từ 11% tại các quốc gia phát triển đến hơn 32% tại một số khu vực đang phát triển.
Nhằm nâng cao hiệu quả phân loại mức độ nặng và hỗ trợ ra quyết định can thiệp sớm, nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Sơ sinh - Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022. Đối tượng nghiên cứu gồm 261 bệnh nhi sơ sinh được chẩn đoán suy hô hấp cấp nhập khoa Điều trị tích cực sơ sinh. Nghiên cứu hướng tới hai mục tiêu trọng tâm: mô tả nồng độ men Lactate Dehydrogenase (LDH) máu ở trẻ sơ sinh suy hô hấp và xác định giá trị thực tiễn của nồng độ LDH máu trong việc đánh giá mức độ suy hô hấp, nhu cầu can thiệp thở máy cũng như tiên lượng kết quả điều trị. Kết quả cung cấp một dấu ấn sinh học định lượng có độ tin cậy cao, hỗ trợ tối ưu hóa phác đồ điều trị hồi sức cấp cứu sơ sinh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Quá trình chuyển hóa tế bào trong điều kiện thiếu oxy mô là nền tảng bệnh học giải thích biến thiên men sinh học. Khi suy hô hấp xảy ra, sự sụt giảm oxy máu động mạch (PaO2 dưới 50 mmHg) và toan hóa máu dẫn đến tình trạng giảm tưới máu vi tuần hoàn và thiếu hụt năng lượng nghiêm trọng tại các mô. Quá trình đường phân yếm khí tăng cường kích hoạt phản ứng khử pyruvate thành lactate nhờ xúc tác của enzyme Lactate Dehydrogenase với sự tham gia của coenzyme Nicotinamide Adenine Dinucleotide (dạng oxy hóa NAD+ và dạng khử NADH).
Về mặt cấu trúc phân tử, Lactate Dehydrogenase là một tetramer có trọng lượng phân tử khoảng 134.000 Dalton, gồm 4 chuỗi polypeptide thuộc hai tiểu đơn vị H và M, tạo nên 5 dạng isozyme chính từ LDH-1 đến LDH-5. Nồng độ LDH nội bào cao gấp khoảng 500 lần so với huyết thanh. Do đó, khi màng tế bào bị tổn thương do thiếu oxy, hoại tử hoặc phản ứng viêm hệ thống, một lượng lớn enzyme được giải phóng khuếch tán vào lòng mạch. Theo chuẩn của Liên đoàn Quốc tế về Hóa Lâm sàng (IFCC) đo tại 37 độ C, ngưỡng nồng độ LDH máu sinh lý ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh là dưới 600 U/L. Sự gia tăng nồng độ LDH máu vượt ngưỡng 600 U/L phản ánh trực tiếp mức độ phá hủy tế bào và mức độ thiếu oxy mô trong suy hô hấp sơ sinh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang tiến cứu trên cỡ mẫu thuận tiện gồm 261 bệnh nhi sơ sinh suy hô hấp nhập khoa Điều trị tích cực sơ sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm trẻ sơ sinh dưới 28 ngày tuổi có biểu hiện lâm sàng của suy hô hấp như thở nhanh trên 60 lần/phút, thở chậm dưới 30 lần/phút, co kéo lồng ngực mạnh, phập phồng cánh mũi, thở rên, tím tái hoặc chỉ số Silverman từ 3 điểm trở lên kết hợp biến đổi khí máu động mạch. Các trường hợp mẫu máu bị tan máu (vỡ hồng cầu) hoặc bệnh nhi cần đặt nội khí quản chủ động do chỉ định ngoại khoa được loại trừ nghiêm ngặt nhằm bảo đảm độ chuẩn xác của nồng độ men.
Bệnh phẩm máu tĩnh mạch với thể tích 2 ml được thu thập ngay khi bệnh nhi vào viện, đựng trong ống chống đông Li-Heparin, ly tâm tách huyết tương và phân tích trong vòng 2 giờ trên hệ thống máy xét nghiệm tự động Cobas 6000 (501) của hãng Hitachi theo nguyên lý động học enzyme ở bước sóng 340 nm. Toàn bộ số liệu lâm sàng, khí máu, chỉ số sinh tồn và kết quả điều trị được thu thập vào bệnh án nghiên cứu mẫu. Dữ liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS 22.0. Do biến số nồng độ LDH không tuân theo phân phối chuẩn, nghiên cứu sử dụng các kiểm định phi tham số Mann-Whitney để so sánh giá trị trung vị giữa các nhóm và phân tích đường cong ROC nhằm xác định độ nhạy, độ đặc hiệu cùng điểm cắt tối ưu trong phân loại mức độ bệnh.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát trên 261 trẻ sơ sinh suy hô hấp ghi nhận tỷ lệ trẻ nam chiếm ưu thế rõ rệt với 176 trẻ (tỷ lệ 67,4%), gấp hơn 2 lần so với trẻ nữ với 85 trẻ (tỷ lệ 32,6%). Phân bố theo tuổi thai cho thấy nhóm trẻ đủ tháng từ 37 tuần trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất với 164 trẻ (tỷ lệ 62,8%), nhóm non tháng muộn 32 đến dưới 37 tuần chiếm 67 trẻ (tỷ lệ 25,7%), non tháng từ 28 đến dưới 32 tuần có 26 trẻ (tỷ lệ 10,0%) và dưới 28 tuần có 4 trẻ (tỷ lệ 1,5%). Tương ứng với đó, nhóm có cân nặng lúc sinh từ 2500g trở lên chiếm tỷ lệ 68,6% (179 trẻ), trong khi trẻ nhẹ cân dưới 1000g chiếm 3,1% (8 trẻ).
Về phân loại nguyên nhân, các bệnh lý ngoài phổi chiếm 57,5% (150 trẻ), trong đó bệnh não thiếu oxy thiếu máu cục bộ (HIE) là nguyên nhân đơn lẻ phổ biến nhất chiếm 24,1% (63 trẻ), tiếp theo là nhiễm khuẩn huyết chiếm 4,6% (12 trẻ) và rối loạn chuyển hóa bẩm sinh chiếm 3,8% (10 trẻ). Nhóm nguyên nhân tại phổi chiếm 42,5% (111 trẻ), dẫn đầu là bệnh màng trong với 28 trẻ (tỷ lệ 10,7%), viêm phổi sơ sinh với 24 trẻ (tỷ lệ 9,2%), tăng áp lực động mạch phổi dai dẳng với 20 trẻ (tỷ lệ 7,7%), thở nhanh thoáng qua với 14 trẻ (tỷ lệ 5,4%) cùng tràn khí màng phổi chiếm 4,2% (11 trẻ).
Nồng độ LDH máu trung vị của toàn bộ nhóm trẻ suy hô hấp đạt 1113 U/L, dao động trong khoảng tứ phân vị từ 786 U/L đến 1907,5 U/L, cao vượt trội so với ngưỡng tham chiếu bình thường dưới 600 U/L. Đặc biệt, nồng độ LDH máu có sự khác biệt rõ rệt theo mức độ can thiệp hỗ trợ hô hấp: nhóm suy hô hấp nặng cần thở máy xâm nhập (222 trẻ, chiếm 85,1%) có trung vị LDH là 1128,5 U/L (khoảng tứ phân vị: 813,25 - 1997,75 U/L), cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm suy hô hấp nhẹ và trung bình không cần thở máy (39 trẻ, chiếm 14,9%) với mức trung vị là 862 U/L (khoảng tứ phân vị: 604 - 1574 U/L), kiểm định ghi nhận giá trị p = 0,009.
Thảo luận kết quả
Sự gia tăng vượt bậc của nồng độ LDH trong huyết thanh trẻ suy hô hấp phản ánh chân thực mức độ hoại tử tế bào và tình trạng toan chuyển hóa mô do thiếu oxy kéo dài. Trong các bệnh lý sơ sinh nặng như bệnh não thiếu oxy thiếu máu cục bộ hoặc sốc nhiễm khuẩn, cơ chế tái phân phối tuần hoàn ưu tiên dòng máu cho não và tim làm giảm tưới máu nghiêm trọng tại phổi, gan, cơ xương và thận, từ đó thúc đẩy hiện tượng giải phóng ồ ạt các isozyme LDH vào tuần hoàn.
Khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế, kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Servet Ozkiraz tại Thổ Nhĩ Kỳ trên nhóm trẻ thở nhanh thoáng qua, trong đó điểm cắt LDH 750 U/L được chứng minh có khả năng dự đoán nhu cầu thở oxy kéo dài trên 72 giờ với độ đặc hiệu 90,6% và diện tích dưới đường cong đạt 0,733. Tương tự, nghiên cứu của Mohamed Shawky Elfarargy tại Ai Cập trên 90 trẻ sơ sinh mắc bệnh màng trong và thở nhanh thoáng qua cũng khẳng định LDH là marker nhạy bén phản ánh mức độ trầm trọng của tổn thương nhu mô phổi. Tại Việt Nam, kết quả này củng cố các báo cáo trước đây của Tôn Nữ Vân Anh, ghi nhận nồng độ LDH ở nhóm trẻ suy hô hấp cần thở CPAP đạt trung vị 903 U/L, cao hơn đáng kể so với nhóm không cần CPAP (719 U/L) với p < 0,05.
Các dữ liệu nghiên cứu về sự phân tầng nồng độ LDH máu theo nhóm nguyên nhân và mức độ can thiệp có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ hộp thể hiện khoảng tứ phân vị và đường cong đặc trưng hoạt động máy thu (ROC). Diện tích dưới đường cong ROC của nồng độ LDH máu khẳng định đây là một xét nghiệm cận lâm sàng có giá trị tiên lượng tin cậy, giúp phân loại sớm bệnh nhân cần hỗ trợ thông khí nhân tạo ngay từ thời điểm nhập viện.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm tối ưu hóa công tác cấp cứu và hồi sức sơ sinh tại các cơ sở y tế, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị then chốt:
-
Thiết lập chỉ định xét nghiệm định lượng nồng độ LDH máu thường quy ngay trong 2 giờ đầu nhập viện cho toàn bộ trẻ sơ sinh có biểu hiện suy hô hấp lâm sàng hoặc chỉ số Silverman từ 3 điểm trở lên. Mục tiêu giúp đội ngũ bác sĩ chuyên khoa Nhi và Hồi sức cấp cứu nhận diện sớm các trường hợp có nguy cơ chuyển nặng, giảm thiểu tỷ lệ chậm trễ can thiệp thông khí xâm nhập từ 15% đến 20%.
-
Ứng dụng ngưỡng nồng độ LDH máu từ 850 U/L đến 1100 U/L như một chỉ số cận lâm sàng cảnh báo nguy cơ thất bại với các biện pháp hỗ trợ hô hấp không xâm nhập (thở oxy gọng kính, thở áp lực dương liên tục CPAP). Đội ngũ bác sĩ lâm sàng tại khoa Hồi sức tích cực sơ sinh cần chủ động hội chẩn, chuẩn bị trang thiết bị máy thở và thực hiện đặt ống nội khí quản kịp thời trong 24 giờ đầu điều trị.
-
Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật lấy mẫu và xét nghiệm huyết học sinh hóa tại các phòng xét nghiệm bệnh viện. Kỹ thuật viên xét nghiệm cần đảm bảo thao tác lấy 2 ml máu tĩnh mạch êm dịu, sử dụng chất chống đông Li-Heparin, kiểm soát tỷ lệ tán huyết vỡ hồng cầu dưới 5% và hoàn tất phân tích mẫu trong vòng 120 phút nhằm duy trì độ chuẩn xác tuyệt đối của hoạt độ men.
-
Xây dựng chương trình đào tạo liên tục và tập huấn định kỳ 6 tháng một lần cho đội ngũ y bác sĩ tuyến cơ sở về kỹ năng đọc, kết hợp phân tích các chỉ số khí máu động mạch, thang điểm lâm sàng Silverman và nồng độ men LDH máu. Ban Giám đốc các bệnh viện chuyên khoa Nhi và Sản Nhi cần cập nhật phác đồ chẩn đoán đa tầng nhằm nâng cao năng lực phân loại bệnh nhân trước khi chuyển tuyến an toàn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:
-
Bác sĩ chuyên khoa Sơ sinh và Hồi sức cấp cứu Nhi khoa: Luận văn cung cấp bằng chứng định lượng vững chắc về giá trị của nồng độ LDH máu, giúp bác sĩ lâm sàng có thêm công cụ tin cậy để đánh giá độ nặng của suy hô hấp, quyết định thời điểm thở máy xâm nhập và theo dõi đáp ứng điều trị ở trẻ sơ sinh non tháng cũng như đủ tháng.
-
Bác sĩ và kỹ thuật viên chuyên ngành Hóa sinh lâm sàng: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình định lượng hoạt độ enzyme LDH bằng phương pháp động học trên hệ thống máy Cobas 6000, các yếu tố nhiễu cần kiểm soát như vỡ hồng cầu và tiêu chuẩn kiểm tra chất lượng xét nghiệm trong bối cảnh cấp cứu sơ sinh.
-
Học viên sau đại học, bác sĩ nội trú và nghiên cứu sinh ngành Nhi khoa: Tài nguyên học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng cắt ngang tiến cứu, cách áp dụng các thang điểm đánh giá lâm sàng kết hợp phân tích thống kê phi tham số và đường cong ROC trong nghiên cứu y học.
-
Các nhà quản lý y tế và chuyên gia xây dựng phác đồ điều trị: Căn cứ khoa học thực tế từ 261 ca bệnh tại Bệnh viện Nhi Trung ương để cập nhật hướng dẫn chẩn đoán, điều trị suy hô hấp sơ sinh và tối ưu hóa phân bổ nguồn lực trang thiết bị máy thở tại các đơn vị hồi sức tích cực.
Câu hỏi thường gặp
Nồng độ LDH máu bình thường ở trẻ sơ sinh là bao nhiêu?
Theo tiêu chuẩn sinh học của Liên đoàn Quốc tế về Hóa Lâm sàng (IFCC) đo ở 37 độ C, nồng độ hoạt độ men LDH trong máu ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh thông thường duy trì ở mức dưới 600 U/L. Các giá trị vượt trên ngưỡng này đều là chỉ dấu gợi ý có sự tổn thương hoặc phá hủy tế bào trong cơ thể.
Vì sao suy hô hấp sơ sinh lại làm tăng nồng độ men LDH máu?
Khi trẻ sơ sinh suy hô hấp, nồng độ oxy máu suy giảm nghiêm trọng gây thiếu oxy mô cục bộ và toan hóa chuyển hóa. Tế bào buộc phải chuyển sang đường phân yếm khí, kích thích tăng sinh enzyme LDH để chuyển hóa pyruvate thành lactate. Đồng thời, màng tế bào tổn thương làm rò rỉ lượng lớn LDH nội bào vào huyết tương.
Nồng độ LDH máu ở nhóm trẻ suy hô hấp cần thở máy khác biệt như thế nào so với nhóm không thở máy?
Nghiên cứu trên 261 bệnh nhi ghi nhận nhóm suy hô hấp nặng phải can thiệp thở máy xâm nhập có nồng độ LDH trung vị đạt 1128,5 U/L (khoảng tứ phân vị: 813,25 - 1997,75 U/L), cao hơn rõ rệt so với nhóm không thở máy chỉ đạt trung vị 862 U/L với ý nghĩa thống kê xác thực (p = 0,009).
Nguyên nhân gây suy hô hấp sơ sinh nào phổ biến nhất trong nghiên cứu?
Trong số 261 trẻ nghiên cứu, nhóm nguyên nhân ngoài phổi chiếm 57,5% với bệnh não thiếu oxy thiếu máu cục bộ (HIE) chiếm tỷ lệ cao nhất là 24,1% (63 trẻ). Nhóm nguyên nhân tại phổi chiếm 42,5%, trong đó bệnh màng trong là bệnh lý hàng đầu chiếm 10,7% (28 trẻ), tiếp theo là viêm phổi sơ sinh chiếm 9,2%.
Những yếu tố kỹ thuật nào có thể làm sai lệch kết quả xét nghiệm LDH máu?
Hiện tượng vỡ hồng cầu trong quá trình lấy hoặc xử lý 2 ml máu xét nghiệm là yếu tố gây sai số lớn nhất, do hồng cầu chứa nồng độ LDH rất cao. Ngoài ra, việc chậm trễ phân tích mẫu quá 2 giờ hoặc mẫu máu không được bảo quản đúng chuẩn Li-Heparin cũng làm biến đổi hoạt tính enzyme.
Kết luận
- Đề tài đã nghiên cứu toàn diện trên 261 trẻ sơ sinh suy hô hấp tại Bệnh viện Nhi Trung ương, ghi nhận tỷ lệ trẻ nam chiếm ưu thế 67,4% và nhóm trẻ đủ tháng chiếm 62,8%.
- Bệnh não thiếu oxy thiếu máu cục bộ (24,1%) và bệnh màng trong (10,7%) là hai nguyên nhân hàng đầu gây suy hô hấp sơ sinh tương ứng cho nhóm ngoài phổi và tại phổi.
- Nồng độ LDH máu ở trẻ sơ sinh suy hô hấp tăng cao vượt trội với giá trị trung vị 1113 U/L, phản ánh trung thực mức độ thiếu oxy mô và hoại tử tế bào.
- Xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm trẻ cần thở máy (trung vị 1128,5 U/L) và nhóm không thở máy (trung vị 862 U/L) với mức ý nghĩa p = 0,009, khẳng định giá trị tiên lượng vượt trội của LDH.
- Đóng góp cơ sở khoa học vững chắc để đưa xét nghiệm LDH máu vào quy trình thường quy trong 24 giờ đầu cấp cứu sơ sinh nhằm cá thể hóa phác đồ điều trị và giảm thiểu tỷ lệ tử vong.