CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Đại cương về suy hô hấp ở trẻ sơ sinh 1. Định nghĩa Suy hô hấp là tình trạng hệ hô hấp của trẻ không đủ khả năng duy trì sự trao đổi khí theo nhu cầu của cơ thể, dẫn đến không cung cấp đủ O2 và không thải trừ hết CO2, thể hiện bằng PaO2 thấp và có thể kèm PaCO2 cao. Suy hô hấp được xác định khi PaO2 < 60mmHg và hoặc PaCO2 > 50 mmHg [4].
Dịch tễ học Suy hô hấp là một trong những vấn đề phổ biến nhất mà trẻ sơ sinh gặp phải trong vài ngày đầu đời. Theo Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ, khoảng 10% trẻ sơ sinh cần một số trợ giúp để bắt đầu thở khi mới sinh, với 1% cần hồi sức tích cực. Trẻ càng non tháng, nguy cơ mắc suy hô hấp (SHH) càng cao. Trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 29 tuần có nguy cơ mắc SHH lên đến 60% và có liên quan đến bệnh màng trong (BMT) [12].
Tại Ấn Độ, một số nghiên cứu cho thấy BMT chiếm 6,8% - 14,1% trẻ đẻ non sống, trong đó những trẻ có tuổi thai 29 - 30 tuần chiếm 32% [23]. Các nguy cơ khác như gia đình có trẻ đã bị SHH, trẻ sinh mổ khi chưa có chuyển dạ, trẻ sinh ra từ các bà mẹ đái tháo đường, trẻ bị ngạt, viêm ối - màng ối. Theo Nadeem G và cộng sự các yếu tố trước sinh bao gồm tuổi mẹ cao hoặc thấp, đa thai và sản giật. Các yếu tố trong lúc sinh là nước ối có phân su, suy thai và chuyển dạ kéo dài, nước ối có phân su được thấy trong 80,3% trường hợp so với 40,4% đối chứng (P < 0,0001) %.
Đặc điểm hệ hô hấp ở trẻ sơ sinh 1. Trẻ sơ sinh đủ tháng Trẻ sơ sinh đủ tháng là trẻ có tuổi thai đã phát triển trong tử cung 9 tháng 10 ngày hoặc 37 - 42 tuần hoặc 278 ± 15 ngày tính từ ngày đầu kỳ kinh cuối [2]. Thời kỳ sơ sinh được tính từ lúc trẻ được sinh ra đến khi trẻ được 28 ngày tuổi [2]. Các đặc điểm sinh học của trẻ có sự khác biệt rất lớn trong thời kỳ này khi trẻ đột ngột chuyển từ môi trường tử cung sang môi trường bên ngoài.
Đứa trẻ muốn tồn tại phải có một sự thích nghi tốt về hô hấp, tuần hoàn, huyết học và các bộ phận khác như tiêu hóa, thận, thần kinh, v. Hệ hô hấp là một trong các hệ cơ quan hoạt động sớm nhất ngay sau sinh. Nhịp 1 thở đầu tiên của trẻ chính là tiếng khóc. Sau đó trẻ có những nhịp thở không đều, đôi khi có cơn ngừng thở 3 - 5 giây, co kéo nhẹ cơ hô hấp phụ hoặc thở rên.
Những biểu hiện này nhanh chóng mất đi 1 - 2 giờ sau sinh. Nhịp thở ổn định dần với tần số 40 - 45 nhịp/phút. Áp lực đường thở trong khoảng 20 - 25 cm H2O [32]. Trong quá trình trẻ hít thở, các phế nang bắt đầu giãn rộng.
Một lượng lớn surfactant và dịch trong lòng phế nang được giải phóng. Các đơn vị chức năng của bộ máy hô hấp bắt đầu vận hành đảm bảo quá trình dẫn khí và trao đổi khí tại phổi, trẻ bắt đầu quá trình tự thở [3].2 Trẻ sơ sinh thiếu tháng Trẻ thiếu tháng hay còn gọi là trẻ đẻ non là trẻ ra đời trước thời hạn bình thường trong tử cung, có tuổi thai dưới 37 tuần và có khả năng sống được [2]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trẻ có khả năng sống được khi có tuổi thai ít nhất từ 22 tuần hoặc cân nặng lúc sinh ít nhất 500 gram [2]. Trẻ đẻ non có nhiều đặc điểm khác biệt với trẻ đủ tháng.
Không chỉ khác biệt về đặc điểm hình thể bên ngoài mà còn khác biệt về đặc điểm sinh lý chức năng các cơ quan. Những đặc điểm sinh lý phụ thuộc vào mức độ và nguyên nhân đẻ non. Trẻ càng non thì càng kém thích nghi với môi trường ngoài tử cung [2]. Trung tâm hô hấp của trẻ đẻ non chưa hoàn chỉnh nên sau khi cắt rốn, trẻ thường khóc chậm, khóc yếu, thở không đều, ngừng thở kéo dài.
Những rối loạn hô hấp này làm thiếu O2 máu, tăng CO2 dẫn đến ức chế trung tâm hô hấp. Ở trẻ sơ sinh thiếu tháng, phổi chưa trưởng thành, các tổ chức đàn hồi ít nên phế nang khó giãn nở làm cho trao đổi O2 qua các mao mạch càng khó khăn [1], các mao mạch tăng tính thấm, dễ sung huyết. Lồng ngực trẻ sơ sinh thiếu tháng hẹp, xương sườn mềm dễ biến dạng, các cơ liên sườn giãn nở kém. Tất cả các yếu tố trên góp phần làm cho lồng ngực của trẻ đẻ non di động hạn chế.
Trẻ đẻ non thường dễ bị suy hô hấp hơn so với trẻ đủ tháng. Các biểu hiện hô hấp này thường kéo dài trong nhiều tuần do đó cần theo dõi sát và phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy hô hấp. Sinh lý bệnh suy hô hấp * Giảm thông khí phế nang Giảm thông khí phế nang là cơ chế thường gặp nhất trong suy hô hấp, còn gọi 2 là cơ chế "suy bơm hô hấp". Thông khí phế nang được xác định bằng: VA = (VT – VD) x f VA: Thông khí phế nang VT: Thể tích khí lưu thông VD: Thể tích khoảng chết f: tần số thở Giảm thông khí phế nang xảy ra khi: Giảm toàn bộ thông khí do giảm thể tích khí lưu thông hoặc giảm tần số thở.
+ Giảm thể tích khí lưu thông chủ yếu do tắc nghẽn đường hô hấp gồm đờm dãi, phù nề niêm mạc đường hô hấp. Giảm thể tích khí lưu thông gặp trong các bệnh lý như dị vật đường thở, bệnh bạch hầu, co thắt thanh quản, viêm tiểu phế quản, hen phế quản hoặc bất thường lồng ngực, cột sống, biểu hiện là nhịp thở nhanh, nông. + Giảm tần số thở hay thở chậm do ức chế trung tâm hô hấp. Thở chậm hay gặp trong các bệnh lý tại hệ thần kinh trung ương (ngộ độc thuốc ngủ, ngộ độc chì, v.), hệ thần kinh ngoại biên (chấn thương tủy sống, viêm tủy cấp, v.), bệnh thần kinh - cơ (bệnh nhược cơ, hội chứng Guillain - Barré, v.
+ Tăng thể tích khoảng chết chủ yếu do hiện tượng ứ khí phế nang. Tăng thể tích khoảng chết thường gặp trong hen phế quản, viêm tiểu phế quản. Do suy giảm toàn bộ lượng khí lưu thông dẫn đến ứ đọng CO2 và thiếu O2. Trong đó ưu thế rõ rệt là tình trạng ứ đọng CO2 gây nhiễm toan hô hấp.
Chênh áp O2 phế nang và động mạch thường dưới 20 mmHg. * Shunt Shunt là hiện tượng dòng máu đi từ tim phải về tim trái mà không được trao đổi khí. Hậu quả gây giảm O2 máu động mạch, tăng chênh áp O2 phế nang và động mạch PAO2 – PaO2 > 20 mmHg và không đáp ứng với điều trị bằng O2 liệu pháp. Shunt được chia thành shunt mao mạch và shunt giải phẫu.
Shunt mao mạch xuất hiện khi dòng máu qua phế nang không được trao đổi khí. Shunt mao mạch gặp trong một số bệnh lý như xẹp phổi, tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, viêm phổi, phù phổi và ARDS. Shunt giải phẫu xuất hiện khi dòng máu từ tim phải tới tim trái mà không qua phổi để trao đổi khí. Shunt giải phẫu gặp trong bệnh tim bẩm sinh.
3 * Bất tương xứng giữa thông khí - tưới máu Bất tương xứng giữa thông khí và tưới máu cũng là nguyên nhân thường gặp gây suy hô hấp. Bình thường có sự tương xứng giữa thông khí và tưới máu ở một phế nang cũng như một vùng phổi VA/Q = 0,8. Khi tắc nghẽn một phần của ống dẫn khí (hen phế quản, viêm tiểu phế quản, v.) thì thông khí phế nang (VA) nhỏ hơn so với tưới máu (Q). Do đó sẽ giảm tỷ lệ VA/Q.
Khi một vùng phổi có hiện tượng tưới máu kém do tắc mạch phổi, huyết phổi hoặc do phế nang căng quá mức gây chèn ép vào mạch máu phổi thì tưới máu (Q) nhỏ hơn thông khí phế nang (VA). Do đó tỷ lệ VA/Q tăng bất thường tại vùng phổi đó, thiếu O2 và tăng chênh áp O2 giữa phế nang và động mạch PAO2 – PaO2 > 20 mmHg. * Rối loạn khuếch tán khí Khi có tổn thương màng trao đổi phế nang - mao mạch và khoảng kẽ phổi (như viêm phổi, phù phổi cấp, ARDS, v.) hoặc thậm chí có sự cản trở khuếch tán khí qua màng phế nang - mao mạch (như đuối nước) sẽ dẫn đến giảm O2 máu mà không tăng CO2. Không tăng CO2 là do khả năng khuếch tán qua màng phế nang - mao mạch của CO2 cao hơn 20 lần so với khả năng khuếch tán của O2 nên CO2 nhanh chóng khuếch tán qua vùng phổi lành hoặc vùng tổn thương ít.
Tuy nhiên khi phổi tổn thương nặng hơn sẽ dẫn đến suy bơm hô hấp gây ra tăng CO2 trong khí máu. Nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh Các nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh có thể riêng lẻ hoặc kết hợp, tùy theo nguyên nhân và mức độ nặng nhẹ mà có những thể lâm sàng khác nhau. Nguyên nhân tại phổi - Hội chứng hít phân su - Các hội chứng hít khác - Viêm phổi sơ sinh - Xuất huyết phổi - Thở nhanh tạm thời - Tràn khí màng phổi và trung thất - Thiểu sản phổi 4 - Tăng áp phổi dai dẳng và các hội chứng rối loạn phát triển của phổi 1. Nguyên nhân ngoài phổi * Rối loạn thần kinh cơ: - Não: Ngạt, ngộ độc thuốc, xuất huyết, nhiễm khuẩn.
- Tủy sống: Chấn thương, bệnh Werdning – Hofmann. - Tổn thương dây thần kinh. * Hạn chế hô hấp do cơ học - Tắc nghẽn hô hấp. - Dị dạng khung xương sườn.
- Rối loạn cơ hoành. * Huyết học - Thiếu máu. * Rối loạn thăng bằng kiềm toan - Toan chuyển hóa * Tim mạch - Bệnh tim bẩm sinh. - Tăng áp động mạch phổi dai dẳng ở trẻ sơ sinh 1.
Một số bệnh lý của người mẹ. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Nam và cộng sự tại Bệnh viện Bạch Mai (2013 đến 2015) cho thấy bệnh lý của người mẹ trong quá trình mang thai hoặc chuyển dạ có nguy cơ ảnh hưởng đến suy hô hấp ở trẻ sau sinh, đặc biệt khi người mẹ mắc một số bệnh lý nội khoa, bệnh tim nặng, nhiễm độc thai nghén - tiền sản giật - hội chứng HELLP, … Bệnh màng trong và ngạt cũng gặp số lượng nhiều hơn khi mẹ có bệnh lý so với nhóm không có bệnh lý tương ứng là 10/15 bệnh nhân và 18/22 bệnh nhân [14]. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh 1.