ĐẶT VẤN ĐỀ PHẦN II NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến động lực làm việc của nhân viên tại Công Ty Cổ Phần Dệt May Phú Hòa An Trong Giai Đoạn Covid 19 Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp về chính sách thúc đẩy động lực làm việc PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SVTH: Huỳnh Đăng 9 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm về động lực làm việc và tạo động lực làm việc Theo Vroom (1964), Động lực là trạng thái hình thành khi ngƣời lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận đƣợc kết quả, phần thƣởng nhƣ mong muốn mếu họ nỗ lực thực hiện công việc. Theo Robboins (1993), Động lực là sự sẵn sàng để phát huy nổ lực đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu cầu cá nhân.
Động lực làm việc là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc hơn trong điều kiện cho phép nhằm tạo ra năng suất, chất lƣợng, hiệu quả cao hơn. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của ngƣời lao động. Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân ngƣời lao động nhằm phát huy mọi nỗ lực để hƣớng bản thân đạt đƣợc mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Thông thƣờng có hai loại động lực là động lực bên trong và động lực bên ngoài.
Động lực bên ngoài: Là những yếu tố bên ngoài khiến cho nhân viên hành động nhằm hƣớng tới hoàn thành nhiệm vụ hoặc mục tiêu công việc. Chúng thƣờng là hình phạt hoặc phần thƣởng. Một hình phạt sẽ thúc đẩy nhân viên hành động để tránh hình phạt đó, trong khi phần thƣởng sẽ thúc đẩy hành động để đƣợc nhận phần thƣởng và nó là nhân viên phấn chấn hơn Động lực bên trong: Động lực xuất phát từ sự hài lòng của cá nhân về chính công việc đang làm. Là sự thỏa mãn khi cá nhân thực hiện tốt một công việc hay đạt đƣợc mục tiêu đề ra, khi cá nhân thấy rằng công việc của mình có đóng góp lớn cho doanh nghiệp.
SVTH: Huỳnh Đăng 10 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh Động lực bên trong thƣờng sẽ hiệu quả hơn động lực bên ngoài, bởi vì nó đến từ bên trong mỗi cá nhân thay vì áp đặt lên cá nhân. Điều này có thể đƣợc thực hiện thông qua việc trao quyền cho nhân viên tự đƣa ra quyết định. Nhân viên thƣờng hài lòng hơn với công việc của họ nếu họ có quyền kiểm soát và tự chủ hơn.
Cho nhân viên khả năng sáng tạo và đổi mới cũng sẽ cải thiện sự hài lòng trong công việc và giúp tạo điều kiện thúc đẩy động lực từ bên trong. Bản chất của động lực làm việc. Động lực làm việc luôn gắn liền với một công việc, một tổ chức, môi trƣờng cụ thể nào đó. Với những công việc mà họ đảm nhận khác nhau thì sự nỗ lực của bản thân để làm việc sẽ là khác nhau.
Tùy vào mỗi thời điểm khác nhau mà động lực của ngƣời lao động sẽ là khác nhau. Vào thời điểm này thì động lực cao nhƣng vào thời điểm khác thì động lực làm việc lại thấp và đôi khi họ sẽ không có động lực để làm việc dẫn đến năng suất làm việc sẽ khác nhau. Bản chất của con ngƣời là là thích đƣợc chủ động trong làm việc, họ sẽ tự nguyện làm việc và họ làm việc tốt năng suất cao tùy vào sự hứng thú và tâm trạng thoải mái. Lợi ích của tạo động lực làm việc 1.
Đối với ngƣời lao động Khi ngƣời lao động cảm thấy những nhu cầu của mình đƣợc đáp ứng thì sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy ngƣời lao động làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân ngƣời lao động không có động lực thì họ khó có thể đạt đƣợc mục tiêu bởi vì khi đó họ chỉ làm việc đủ để hoàn thành công việc đƣợc giao mà không có đƣợc sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong công việc, họ chỉ coi công việc đang làm nhƣ một nghĩa vụ phải thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi. Do đó doanh nghiệp cần phải tạo đƣợc động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của nhân viên. Ngƣời lao động sẽ hoạt động tích cực khi mà họ đƣợc thỏa mãn đƣợc tƣơng đối những nhu cầu của bản thân.
Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ đƣợc hƣởng. Khi ngƣời lao động cảm thấy lợi ích mà họ nhận đƣợc không tƣơng xứng với những gì họ đã bỏ ra, không đáp SVTH: Huỳnh Đăng 11 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh ứng đƣợc những nhu cầu của họ thì họ sẽ cảm thấy chán nản khi làm việc. Lợi ích của bản thân là phƣơng tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà ngƣời lao động nhận đƣợc phải phù hợp với những gì họ cống hiến lúc đó mới tạo ra động lực cho họ làm việc đạt hiệu quả tốt.
Động lực lao động sẽ giúp cho ngƣời lao động tự hoàn thiện bản thân tốt hơn. Họ sẽ học hỏi đƣợc những điều hay những kinh nghiệm quý giá từ đó giúp họ trở nên tự tin và càng nâng cao đƣợc trình độ, giúp bản thân hoàn thành đƣợc những công việc đƣợc tốt hơn. Đối với doanh nghiệp Với doanh nghiệp thì mục tiêu hàng đầu là hiệu quả sản xuất và kinh doanh tốt. Để đạt đƣợc mục tiêu đó thì quan trọng nhất là yếu tố con ngƣời hay nói cách khác là ngƣời lao động, họ là ngƣời quyết định đến năng suất lao động.
vì vậy doanh nghiệp cần quan tâm đến họ, đƣa ra các cơ chế chính sách nhằm tạo động lực để phát huy đƣợc năng lực. khuyến khích động viên để ngƣời lao động giành hết khả năng của bản thân để làm việc. khi đó doanh nghiêp sẽ tăng đƣợc năng suất lao động tăng doanh thu, lợi nhuận. Doanh nghiệp khi tạo ra đƣợc động lực thì việc giữ chân đƣợc ngƣời lao động là khá dễ dàng khi đó họ sẽ làm việc tận tâm và nâng cao đƣợc năng suất.
Giảm thiểu đƣợc chi phí chuyển đổi nhân viên. Danh tiếng của công ty đối với mọi đối tƣợng tuyển dụng sẽ cao và từ đó thu hút đƣợc nhiều nhân tài cho doanh nghiệp. Tạo động lực cho ngƣời lao động là một trong những biện pháp hiệu quả nhất trong việc nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ nâng cao đƣợc hình ảnh, giá trị thƣơng hiệu.
xây dựng đƣợc mối quan hệ tốt đẹp giữa những ngƣời lao động, họ sẽ gắn kết và đoàn kết để làm việc nhóm. Đây là lợi ích vô cùng lớn cho mỗi doanh nghiệp. Đối với xã hội SVTH: Huỳnh Đăng 12 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh Tạo động lực lao động giúp cho ngƣời lao động hăng hái làm việc nâng cao hiệu quả sản xuất nâng cao năng suất lao động.
Từ đó tạo ra đƣợc hiệu quả kinh tế cao lợi nhuận doanh nghiệp cao tiền lƣơng của ngƣời lao động sẽ đƣợc cải thiện tốt hơn giải quyết đƣợc những vấn đề trong nhu cầu xã hội. Tăng năng suất lao động sẽ tạo ra đƣợc nhiều của cải, kinh tế đất nƣớc sẽ ngày càng phát triển đời sống của ngƣời lao động đƣợc đáp ứng và hƣớng đến những nhu cầu cao hơn trong cuộc sống. Đời sống xã hội ổn định, ngƣời lao động sẽ cảm thấy đƣợc hài lòng, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Các thuyết liên quan đến động lực làm việc của nhân viên 1.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Maslow (1943) cho rằng con ngƣời có rất nhiều nhu cầu khác nhau.
Căn cứ vào mức độ quan trọng và khao khát đƣợc thể hiện chúng ông đã chia và sắp xếp nhu cầu của con ngƣời thành 5 mức độ theo thứ tự từ tấp đến cao nhƣ sau: Hình 1.1 - Tháp nhu cầu của Maslow SVTH: Huỳnh Đăng 13 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Như Phương Anh (Nguồn: Abraham Maslow (1943) Nhu cầu sinh lý: Là các nhu cầu cần thiết và tối thiểu đảm bảo cho con ngƣời tồn tại nhƣ :cơ bản về ăn, mặc, ở… Nhu cầu an toàn: Nhu cầu cuộ sống ổn định và an toàn nhƣ: An ninh cá nhân, cảm xúc, sức khỏe, cuộc sống an toàn. Nhu cầu xã hội: Là những nhu cầu về tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình các nhu cầu về hội nhập cuộc sống, duy trì mối quan hệ với những ngƣời xung quanh. Nhu cầu đƣợc tôn trọng: Hầu hết mọi ngƣời đều có nhu cầu tự tôn và lòng tự trọng, nhu cầu có địa vị, đƣợc ngƣời khác công nhận và tôn trọng, cũng nhƣ nhu cầu tự tôn trọng mình.
Nhu cầu tự hoàn thiện: Là nhu cầu ở bậc cao nhất khi con ngƣời muốn đƣợc trƣởng thành và phát triển, đƣợc biến các năng lực của mình thành hiện thực, hoặc nhu cầu đạt đƣợc các thành tích mới và có ý nghĩa, nhu cầu sáng tạo. Maslow đã khẳng định: Mỗi ngƣời có hệ thống nhu cầu khác nhau và nó đƣợc thỏa mãn bằng những cách, những phƣơng tiện khác nhau. Theo nguyên tắc, con ngƣời cần đƣợc thõa mãn các nhu cầu ở bậc thấp hơn trƣớc khi đƣợc khuyến khích để thõa mãn những nhu cầu ở bậc cao hơn. Do đó nhà lãnh đọa cần phải quan tâm đến các nhu cầu của ngƣời lao động.
Từ đó có các biện pháp để thõa mãn nhu cầu đó một cách hợp lý. Thuyết về bản chất con ngƣời của Douglas Mc Gregor Douglas Mc Gregor đã đƣa ra 2 thuyết về con ngƣời trái ngƣợc nhƣ sau: Thuyết X: Con ngƣời vốn dĩ không thích làm việc, họ sẽ tránh việc nếu có thể đƣợc. Hầu hết mọi ngƣời phải bị ép buộc, kiểm tra, chỉ thị và đe dọa bằng hình phạt để thực hiện những mục tiêu của tổ chức; nghĩa là ngƣời quản lí phải sử dụng quyền lực tuyệt đối đối với ngƣời lao động bất cứ lúc nào và ở đâu. SVTH: Huỳnh Đăng 14 Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: ThS.
Nguyễn Như Phương Anh Hầu hết ngƣời lao động chỉ muốn an phận, ít tham vọng, làm việc thụ động, nên nhà quản lí phải chỉ dẫn công việc cho họ một cách tỉ mỉ. Thuyết Y: Ngƣời lao động không phải là không thích làm việc, họ có thể cố gắng về thể lực và tinh thần trong công việc.