Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khối u buồng trứng là một trong những bệnh lý khối u đường sinh dục nữ thường gặp trên lâm sàng, có tần suất xuất hiện chỉ đứng sau u cơ trơn tử cung. Về mặt dịch tễ học và giải phẫu bệnh, khối u buồng trứng có thể phát sinh ở mọi lứa tuổi, từ trẻ em gái chưa dậy thì cho đến phụ nữ đã bước vào giai đoạn mãn kinh. Đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, phần lớn các tổn thương buồng trứng là khối u cơ năng hoặc khối u thực thể lành tính. Ngược lại, ở phụ nữ sau mãn kinh, buồng trứng về mặt sinh lý đã thoái triển, ngừng hoạt động phóng noãn và suy giảm bài tiết nội tiết tố; tuy nhiên, nguy cơ tiến triển thành các khối u ác tính ở giai đoạn này lại tăng lên rõ rệt. Theo các tài liệu nghiên cứu được tác giả dẫn giải, tác giả Đinh Thế Mỹ (1998) ghi nhận tỷ lệ u buồng trứng ác tính tập trung cao nhất ở nhóm tuổi 50 - 59 (chiếm trên 50%); tác giả Koonings (1989) chỉ ra nguy cơ ác tính ở phụ nữ từ 60 - 69 tuổi cao gấp 12 lần nhóm 20 - 29 tuổi, với tỷ lệ ác tính chung ở người mãn kinh là 45%; và nghiên cứu của Cao Thị Thuý Hà (2016) tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy tỷ lệ u buồng trứng ác tính ở lứa tuổi mãn kinh là 22,1%.
Xuất phát từ thực tế các nghiên cứu trước đó đã diễn ra cách quãng và có sự khác biệt về phương pháp, khóa luận tốt nghiệp ngành Y đa khoa của tác giả Trần Thị Thuý Ngân thực hiện tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tập trung phân tích thực trạng chẩn đoán và điều trị ngoại khoa nhóm bệnh lý này tại cơ sở chuyên khoa đầu ngành. Khóa luận xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân u buồng trứng ở lứa tuổi mãn kinh được phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.
- Nhận xét kết quả điều trị u buồng trứng ở lứa tuổi mãn kinh bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân trên 40 tuổi, đã mãn kinh tự nhiên, được phẫu thuật chẩn đoán và điều trị khối u buồng trứng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong thời gian từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2021. Nghiên cứu được triển khai thu thập số liệu hồi cứu tại Phòng Kế hoạch Tổng hợp, Khoa Phụ - Ngoại A5 và Khoa Ung bướu của bệnh viện trong giai đoạn từ tháng 11/2021 đến tháng 5/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý thuyết, khóa luận hệ thống hóa các đặc điểm giải phẫu, mạch máu, thần kinh và cấu tạo vi thể của buồng trứng (vùng vỏ, vùng tủy và lớp biểu mô mầm), đồng thời phân tích cơ chế suy giảm chức năng trục nội tiết vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng dẫn tới tình trạng mãn kinh. Văn bản định nghĩa mãn kinh tự nhiên là tình trạng vô kinh liên tục 12 tháng sau chu kỳ kinh cuối cùng mà không do nguyên nhân bệnh lý. Khối u buồng trứng được phân loại thành u cơ năng (nang bọc noãn, nang hoàng tuyến, nang hoàng thể) và khối u thực thể gồm: u biểu mô (u thanh dịch, u nang nhầy, u dạng lạc nội mạc tử cung, u Brenner, u tế bào sáng...), u tế bào mầm (u quái, u tế bào mầm Dysgerminoma, ung thư nguyên bào nuôi Choriocarcinoma...), u mô đệm - dây sinh dục (u tế bào hạt, u tế bào vỏ, u tế bào Sertoli-Leydig) và u di căn (u Krukenberg từ đường tiêu hóa). Bên cạnh phân loại mô bệnh học, tác giả đề cập đến hệ thống phân chia giai đoạn ung thư buồng trứng theo Liên đoàn Phụ khoa và Sản khoa Quốc tế (FIGO), các giá trị của chất chỉ điểm sinh học CA-125, hình ảnh học siêu âm (phản âm trống, tăng âm, hỗn hợp, vách, nhú, thành phần đặc), chụp cộng hưởng từ (MRI) và các chỉ định can thiệp ngoại khoa qua mổ mở hoặc phẫu thuật nội soi.
Phương pháp nghiên cứu thực tế áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, thu thập số liệu thông qua hồi cứu hồ sơ bệnh án.
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, lấy mẫu toàn thể toàn bộ 70 bệnh nhân mãn kinh được chẩn đoán xác định u buồng trứng sau phẫu thuật và có kết quả mô bệnh học tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong năm 2021.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ trên 40 tuổi, mãn kinh tự nhiên; được chẩn đoán xác định u buồng trứng; điều trị phẫu thuật tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021; có kết quả giải phẫu bệnh sau mổ và hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh án thiếu thông tin; bệnh nhân từng cắt tử cung nhưng không có xét nghiệm định lượng nội tiết (FSH ≥ 40 mIU/ml, Estradiol < 50 pg/ml) để khẳng định mãn kinh; chẩn đoán sau mổ không phải u buồng trứng; bệnh nhân mắc các bệnh lý nội khoa nặng (hen phế quản, lao phổi, suy tim, bệnh van tim, đái tháo đường, Basedow nặng, rối loạn đông máu).
- Hệ thống biến số: Bao gồm 26 biến số phục vụ hai mục tiêu nghiên cứu (nhân khẩu học, tiền sử sản khoa, tiền sử phụ khoa/nội khoa, hoàn cảnh phát hiện, triệu chứng thực thể, đặc điểm siêu âm, nồng độ CA-125, kết quả giải phẫu bệnh, thời điểm phẫu thuật, loại hình mổ, phương pháp xử trí, độ dính, thời gian mổ, tai biến, biến chứng và ngày nằm viện).
- Xử lý số liệu: Nhập dữ liệu bằng Microsoft Excel 2016, phân tích thống kê qua phần mềm SPSS 20.0. Các biến định lượng biểu diễn dưới dạng giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn ($\bar{X} \pm SD$), giá trị nhỏ nhất và lớn nhất; các biến định tính tính theo tỷ lệ phần trăm. Sử dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), kiểm định Fisher's exact test cho biến định tính; sử dụng Student's t-test và ANOVA một chiều cho biến định lượng với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$. Đề tài được Hội đồng Đạo đức Đại học Quốc gia Hà Nội và Hội đồng Đạo đức Bệnh viện Phụ sản Hà Nội phê duyệt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương này tổng kết cơ sở lý luận về giải phẫu định khu, hệ thống dây chằng nâng đỡ buồng trứng (mạc treo buồng trứng, dây chằng tử cung - buồng trứng, thắt lưng - buồng trứng, vòi - buồng trứng), hệ thống cấp máu từ động mạch buồng trứng và động mạch tử cung. Tác giả trình bày cấu trúc vi thể gồm biểu mô mầm, mô đệm vỏ và vùng tủy xơ mạch, qua đó làm rõ sự mỏng đi của lớp vỏ buồng trứng khi suy giảm bài tiết estrogen và ngưng rụng trứng ở tuổi mãn kinh. Chương 1 phân loại chi tiết các dạng u cơ năng và u thực thể buồng trứng theo nguồn gốc mô học; phân tích triệu chứng lâm sàng (tức hạ vị, chèn ép trực tràng/tiết niệu, ra máu âm đạo sau mãn kinh, đau bụng do biến chứng xoắn vỡ); phân tích độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm (82 - 96%), xét nghiệm dấu ấn sinh học CA-125 (với các ngưỡng 35 U/ml và 60 U/ml), chụp cộng hưởng từ và chẩn đoán mô bệnh học - tiêu chuẩn vàng xác định bản chất khối u. Về điều trị, chương sách điểm lại lịch sử phẫu thuật u buồng trứng từ ca mổ mở đầu tiên của Ephraim McDowell năm 1809 đến sự phát triển của phẫu thuật nội soi do Kurt Semm khởi xướng năm 1966 (triển khai tại Việt Nam từ năm 1993 tại Bệnh viện Từ Dũ và 1996 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương), đồng thời nêu rõ các ưu nhược điểm, các tai biến ngoại khoa có thể xảy ra và vai trò của hóa - xạ trị bổ trợ. Chương tổng quan cũng lược khảo các nghiên cứu trong nước (Cao Thị Thuý Hà, Nguyễn Hải Linh, Trần Thị Len) và quốc tế (Oǵuz Ateş, Eltabbakh) về đặc điểm khối u buồng trứng ở các nhóm bệnh nhân khác nhau.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 70 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ. Tác giả trình bày bảng danh mục 26 biến số nghiên cứu phân theo hai mục tiêu cụ thể, quy định rõ ràng tiêu chuẩn đánh giá nghề nghiệp, tiêu chuẩn chẩn đoán mãn kinh tự nhiên, cách thức đo đạc kích thước khối u trên không gian 3 chiều qua siêu âm (đường kính dọc, ngang, trước sau), quy ước phản âm hỗn hợp, tiền sử u buồng trứng lành tính và tiêu chuẩn đánh giá ca mổ thành công (loại bỏ hoàn toàn u, không xảy ra tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ, người bệnh xuất viện an toàn). Chương này cũng trình bày sơ đồ nghiên cứu từ khâu thu thập thông tin theo mẫu bệnh án định sẵn, mã hóa dữ liệu đến các thuật toán thống kê mô tả và suy luận trên SPSS 20.0, đồng thời cam kết các quy chuẩn đạo đức y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương kết quả phản ánh các số liệu định lượng thu thập từ 70 bệnh nhân (62 u lành tính - 88,6% và 8 u ác tính - 11,4%):
- Đặc điểm chung: Tuổi trung bình $58,5 \pm 6,1$ (u lành $58,1 \pm 6,0$; u ác $61,4 \pm 6,1$). Nhóm 55 - 64 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (60,0%), nhóm $\ge 65$ tuổi chiếm 17,1%, nhóm $< 55$ tuổi chiếm 22,9%. Nhóm nghề nội trợ/hưu trí chiếm 52,9%, nông dân chiếm 22,9%, công nhân và cán bộ viên chức đều chiếm 7,1%. Bệnh nhân cư trú tại thành thị chiếm 70,0%, nông thôn chiếm 30,0%.
- Tiền sử: 87,2% bệnh nhân có từ 2 con trở lên; 54,3% chưa từng sẩy thai; 80,0% không có vết mổ cũ ở bụng (15,7% có 1 lần mổ cũ, 4,3% có từ 2 lần mổ cũ trở lên); 78,6% không có tiền sử bệnh phụ khoa (18,5% từng viêm âm đạo, 2,9% từng mổ u buồng trứng lành tính); 74,3% không mắc bệnh nội khoa (18,5% tăng huyết áp, 4,3% viêm dạ dày, 2,9% viêm gan B).
- Lâm sàng: U được phát hiện qua khám phụ khoa định kỳ chiếm 38,6%, đau tức hạ vị chiếm 34,3%, phát hiện tình cờ qua siêu âm chiếm 22,9%, tự sờ thấy u chiếm 4,2% (văn bản có đoạn ghi nhận 5,4%). Khối u 1 bên chiếm 85,7% (bên phải 45,7%, bên trái 40,0%), u 2 bên chiếm 14,3% trên phẫu thuật. Kích thước khối u trung bình trên lâm sàng là $7,0 \pm 2,7$ cm; trên siêu âm là $7,2 \pm 2,9$ cm; sau phẫu thuật là $7,1 \pm 2,7$ cm ($p = 0,348$). Tỷ lệ khối u di động dễ là 85,7%, di động hạn chế là 12,9%, không di động là 1,4% (u ác tính có 62,5% di động hạn chế và 12,5% không di động; $p < 0,05$). Ranh giới u rõ chiếm 92,9% (nhóm ác tính có 62,5% ranh giới không rõ; $p < 0,05$). 91,7% u di động dễ không bị dính trong mổ, trong khi u di động hạn chế có 66,7% bị dính và u không di động bị dính 100% ($p < 0,05$). Biến chứng xoắn u gặp ở 5,7% (4 ca, đều là u lành), 94,3% không có biến chứng cấp tính.
- Cận lâm sàng: Trên siêu âm, kích thước 5 - 10 cm chiếm 72,9%, $< 5$ cm chiếm 12,9%, $> 10$ cm chiếm 14,2%. Hình ảnh trống âm chiếm 55,7% (ở nhóm ác tính chỉ có 12,5%), tăng âm chiếm 15,7%, âm vang hỗn hợp chiếm 28,6% (nhóm ác tính chiếm 62,5%; $p = 0,028$). Vách u xuất hiện ở 22,9%, thành phần đặc ở 22,9% và nhú xuất hiện ở 5,7% (riêng nhóm ác tính có 50,0% xuất hiện nhú, u lành 0%). Nồng độ CA-125 trước mổ: nhóm u lành tính có 93,6% đạt mức $< 35$ U/ml; nhóm u ác tính có 75,0% đạt mức $\ge 35$ U/ml ($p < 0,05$). Về giải phẫu bệnh, u nang thanh dịch chiếm cao nhất toàn bộ mẫu (45,7%), u nang bì (21,5%), u nang nhầy (11,4%), u dạng lạc nội mạc tử cung (5,7%), u tế bào vỏ (2,9%), u tế bào hạt (1,4%). Nhóm ác tính (8 ca) gồm 3 ca ung thư biểu mô tuyến thanh dịch (37,5% nhóm ác), 1 ca u giáp biên ác, 1 ca u tế bào sáng, 1 ca u Brenner ác, 1 ca u nội mạc ác tính và 1 ca u tế bào vỏ - hạt ác tính.
- Phẫu thuật: 94,3% mổ phiên theo kế hoạch, 5,7% mổ cấp cứu (do xoắn u). Phẫu thuật nội soi thực hiện trên 88,6% bệnh nhân (chiếm 98,4% nhóm u lành), mổ mở chiếm 11,4% (chiếm 87,5% nhóm u ác và 1 ca u lành kích thước quá lớn). Không có trường hợp nào chuyển đổi từ phẫu thuật nội soi sang mổ mở. Phương pháp xử trí chủ yếu là cắt 2 phần phụ (82,9%); nhóm u ác tính chủ yếu xử trí cắt tử cung + 2 phần phụ + mạc nối lớn (75,0%); cắt tử cung + 2 phần phụ chiếm 5,7% (gồm 2 ca ác tính và 2 ca lành tính kèm bệnh lý tử cung như quá sản niêm mạc tử cung hoặc u xơ tử cung to); cắt u đơn thuần chiếm 1,4% và cắt 1 phần phụ chiếm 1,4%. Thời gian phẫu thuật trung bình chung là $48,5 \pm 23,4$ phút (nội soi: $42,2 \pm 13,3$ phút; mổ mở: $97,5 \pm 27,7$ phút; $p < 0,05$). Tỷ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ là 0% (100% an toàn). Thời gian nằm viện trung bình là $2,6 \pm 1,7$ ngày (81,4% ra viện trong vòng 3 ngày).
Chương 4: Bàn luận
Tác giả so sánh các chỉ số nghiên cứu với các công bố khoa học trong và ngoài nước:
- Đặc điểm dịch tễ và bệnh nhân: Tuổi trung bình 58,5 phù hợp với nghiên cứu của Cao Thị Thuý Hà ($59,5 \pm 7,2$), trong đó tuổi của nhóm ác tính (61,4) cao hơn nhóm lành tính (58,1), phản ánh xu hướng ác tính hóa tăng dần theo độ tuổi mãn kinh theo nhận định của Đinh Thế Mỹ và Philip J. Tỷ lệ hưu trí/nội trợ cao (52,9%) và bệnh nhân thành thị chiếm đa số (70,0%) phản ánh đặc điểm tuyến cuối của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tiếp nhận người bệnh tại thủ đô, khác biệt so với tỷ lệ bệnh nhân nông thôn của Nguyễn Thanh Tùng năm 2018 (76,0%). Đa số phụ nữ có từ 2 con trở lên (87,2%) và chưa từng sẩy thai (54,3%), phù hợp với giả thuyết dịch tễ học về mối liên quan giữa chu kỳ rụng trứng liên tục và nguy cơ sinh u.
- Tiền sử vết mổ cũ và chỉ định phẫu thuật: 20,0% bệnh nhân có vết mổ cũ ổ bụng (trong đó có 3 trường hợp mổ đẻ 2 lần) đều được phẫu thuật nội soi thành công, không gặp tai biến, cho thấy vết mổ cũ không còn là chống chỉ định tuyệt đối của phẫu thuật nội soi nhờ kỹ năng phẫu thuật nâng cao. Tỷ lệ có tiền sử mổ u buồng trứng lành tính là 2,9%, tác giả viện dẫn số liệu của Rossing (2008) cho thấy tiền sử u lành làm tăng nguy cơ u giáp biên lên 1,7 lần để nhấn mạnh sự cần thiết của việc theo dõi phụ khoa định kỳ.
- Giá trị chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng: Hoàn cảnh phát hiện bệnh chủ yếu qua khám định kỳ (38,6%) và siêu âm (22,9%), củng cố tính chất âm thầm của khối u buồng trứng sau mãn kinh. Sự tương đồng cao về số đo kích thước u giữa lâm sàng ($7,0$ cm), siêu âm ($7,2$ cm) và khi mổ ($7,1$ cm) với $p > 0,05$ khẳng định độ tin cậy của các phương pháp đánh giá hình ảnh. Siêu âm thể hiện giá trị phân loại rõ rệt khi phát hiện nhú (chiếm 50,0% u ác tính, không gặp ở u lành) và hình ảnh âm vang hỗn hợp (chiếm 62,5% u ác tính so với 24,2% ở u lành). Xét nghiệm CA-125 có nồng độ tăng $\ge 35$ U/ml ở 75,0% nhóm u ác tính, trong khi 93,6% u lành tính có nồng độ bình thường, chứng minh giá trị phối hợp của dấu ấn sinh học trong tiên lượng bản chất khối u.
- Kết quả điều trị ngoại khoa: Tỷ lệ phẫu thuật nội soi đạt 88,6% với thời gian mổ ngắn hơn đáng kể so với mổ mở (42,2 phút so với 97,5 phút). Chỉ định cắt 2 phần phụ chiếm ưu thế tuyệt đối (82,9% toàn bộ nghiên cứu và 93,6% nhóm u lành) được đánh giá là phương thức can thiệp triệt để, đúng nguyên tắc phụ khoa ở lứa tuổi mãn kinh nhằm phòng ngừa nguy cơ phát sinh khối u ở buồng trứng còn lại mà không làm xáo trộn thêm tình trạng nội tiết đã ngưng hoạt động. 100% bệnh nhân không gặp tai biến hoặc biến chứng sau mổ, cùng thời gian nằm viện ngắn ($2,6$ ngày), khẳng định tính an toàn và hiệu quả của các can thiệp phẫu thuật tại bệnh viện.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng và phẫu thuật giữa hai nhóm bệnh
| Đặc điểm / Biến số nghiên cứu |
U lành tính ($n = 62$) |
U ác tính ($n = 8$) |
Toàn bộ mẫu ($n = 70$) |
Ý nghĩa thống kê ($p$) |
| Độ tuổi trung bình ($\bar{X} \pm SD$) |
$58,1 \pm 6,0$ tuổi |
$61,4 \pm 6,1$ tuổi |
$58,5 \pm 6,1$ tuổi |
- |
| Nhóm tuổi 55 - 64 |
37 BN (59,7%) |
5 BN (62,5%) |
42 BN (60,0%) |
- |
| Độ di động u dễ trên lâm sàng |
58 BN (93,5%) |
2 BN (25,0%) |
60 BN (85,7%) |
$p < 0,05$ |
| Ranh giới u rõ trên lâm sàng |
62 BN (100%) |
3 BN (37,5%) |
65 BN (92,9%) |
$p < 0,05$ |
| Âm vang hỗn hợp trên siêu âm |
15 BN (24,2%) |
5 BN (62,5%) |
20 BN (28,6%) |
$p = 0,028$ |
| Hình ảnh có nhú trên siêu âm |
0 BN (0%) |
4 BN (50,0%) |
4 BN (5,7%) |
- |
| Nồng độ CA-125 $\ge 35$ U/ml |
4 BN (6,4%) |
6 BN (75,0%) |
10 BN (14,3%) |
$p < 0,05$ |
| Loại hình phẫu thuật nội soi |
61 BN (98,4%) |
1 BN (12,5%) |
62 BN (88,6%) |
- |
| Loại hình phẫu thuật mổ mở |
1 BN (1,6%) |
7 BN (87,5%) |
8 BN (11,4%) |
- |
| Xử trí cắt 2 phần phụ |
58 BN (93,6%) |
0 BN (0%) |
58 BN (82,9%) |
- |
| Xử trí cắt TC + 2 PP + mạc nối lớn |
0 BN (0%) |
6 BN (75,0%) |
6 BN (8,6%) |
- |
| Biến chứng tai biến mổ/hậu phẫu |
0 BN (0%) |
0 BN (0%) |
0 BN (0%) |
- |
| Thời gian phẫu thuật trung bình |
Nội soi: $42,2 \pm 13,3$ phút |
Mổ mở: $97,5 \pm 27,7$ phút |
$48,5 \pm 23,4$ phút |
$p < 0,05$ |
| Thời gian nằm viện trung bình |
- |
- |
$2,6 \pm 1,7$ ngày |
- |
Giải pháp và khuyến nghị tác giả đề xuất
- Tăng cường truyền thông và duy trì khám phụ khoa định kỳ, kết hợp siêu âm ổ bụng/âm đạo ở phụ nữ sau mãn kinh để phát hiện sớm các khối u buồng trứng ngay cả khi chưa biểu hiện triệu chứng đau hạ vị.
- Kết hợp đồng thời các dấu hiệu hình thái trên siêu âm (tính chất âm vang, cấu trúc vách, sự xuất hiện của chồi nhú) và xét nghiệm nồng độ CA-125 nhằm đánh giá chính xác nguy cơ ác tính trước mổ, hỗ trợ định hướng phương thức can thiệp ngoại khoa phù hợp.
- Ưu tiên chỉ định phẫu thuật nội soi cắt bỏ 2 phần phụ đối với các khối u buồng trứng lành tính ở phụ nữ mãn kinh; tiền sử có vết mổ cũ ở bụng không phải là rào cản ngăn chỉ định phẫu thuật nội soi nếu được thực hiện bởi phẫu thuật viên có kinh nghiệm.
- Áp dụng phẫu thuật mổ mở triệt căn (cắt tử cung hoàn toàn, hai phần phụ và mạc nối lớn) cho các ca bệnh nghi ngờ hoặc xác định ác tính.
Đóng góp của nghiên cứu
- Cung cấp bức tranh thực chứng cập nhật năm 2021 về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và mô bệnh học của bệnh nhân u buồng trứng mãn kinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
- Khẳng định tính an toàn tuyệt đối (0% tai biến và biến chứng) và hiệu quả điều trị phục hồi nhanh của phẫu thuật nội soi u buồng trứng ở phụ nữ cao tuổi, bổ sung dẫn chứng khoa học cho các cơ sở chuyên khoa trong việc mở rộng chỉ định nội soi cho bệnh nhân có vết mổ cũ ở bụng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Cỡ mẫu nghiên cứu còn ở mức vừa phải ($n = 70$), trong đó số ca bệnh ác tính tương đối ít ($n = 8$), làm giảm sức mạnh thống kê khi phân tích chuyên sâu các phân nhóm mô bệnh học hiếm gặp. Nghiên cứu thực hiện theo thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu dựa trên hồ sơ bệnh án tại một trung tâm chuyên khoa trong phạm vi 1 năm (2021), do đó phụ thuộc hoàn toàn vào độ đầy đủ của việc ghi chép bệnh án và chưa theo dõi dọc được diễn tiến sống thêm, tỷ lệ tái phát cũng như kết quả của các phác đồ điều trị bổ trợ (hóa trị, xạ trị) sau xuất viện.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng các nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn và thời gian theo dõi hậu phẫu kéo dài. Bổ sung các chất chỉ điểm sinh học mới như HE4 cùng các thuật toán dự đoán nguy cơ ác tính (ROMA, mô hình IOTA) phối hợp với xét nghiệm mô bệnh học tức thì (cắt lạnh trong mổ) nhằm nâng cao độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán u buồng trứng trước và trong phẫu thuật.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên ngành Y đa khoa, Bác sĩ nội trú và Học viên sau đại học chuyên ngành Sản phụ khoa, Phụ khoa ung bướu.
- Các bác sĩ sản phụ khoa thực hành lâm sàng tại các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện trong việc thăm khám, đánh giá nguy cơ u buồng trứng ở bệnh nhân cao tuổi.
- Phần nội dung đáng tham khảo:
- Khung 26 biến số nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và phẫu thuật (Bảng 2.1) có thể dùng làm biểu mẫu thu thập số liệu chuẩn hóa cho các đề tài nghiên cứu phụ khoa.
- Phân tích chi tiết về tương quan giữa mức độ di động u trên lâm sàng với độ dính thực tế trong mổ, cũng như mối liên hệ giữa các dấu hiệu siêu âm (chồi nhú, vách, âm vang hỗn hợp), nồng độ CA-125 và kết quả mô bệnh học.
- Bằng chứng lâm sàng về tính khả thi của kỹ thuật phẫu thuật nội soi trên bệnh nhân mãn kinh có tiền sử vết mổ cũ ở thành bụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ khối u buồng trứng lành tính và ác tính ở nhóm phụ nữ mãn kinh trong nghiên cứu này là bao nhiêu?
Trong tổng số 70 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, có 62 trường hợp u buồng trứng lành tính (chiếm 88,6%) và 8 trường hợp u buồng trứng ác tính (chiếm 11,4%). Khối u lành tính gặp nhiều nhất là u nang thanh dịch (32 ca, chiếm 51,6% nhóm lành tính và 45,7% toàn bộ nghiên cứu), tiếp đến là u nang bì (15 ca, chiếm 24,2% nhóm lành tính). Đối với nhóm u ác tính, ung thư biểu mô tuyến thanh dịch chiếm tỷ lệ cao nhất (3 ca, chiếm 37,5% nhóm u ác tính).
2. Các triệu chứng và hoàn cảnh nào giúp phát hiện khối u buồng trứng nhiều nhất ở bệnh nhân mãn kinh?
Phần lớn các trường hợp u buồng trứng được phát hiện khi chưa có biến chứng cấp tính. Hoàn cảnh phát hiện phổ biến nhất là qua khám phụ khoa định kỳ với 38,6% (27 trường hợp), tiếp theo là bệnh nhân đi khám vì triệu chứng đau tức hạ vị với 34,3% (24 trường hợp), và phát hiện tình cờ qua siêu âm ổ bụng/phụ khoa chiếm 22,9% (16 trường hợp). Tỷ lệ bệnh nhân tự sờ thấy khối u ở bụng chiếm thấp nhất, chỉ 4,2% (3 trường hợp).
3. Nồng độ chất chỉ điểm CA-125 và hình ảnh siêu âm có ý nghĩa như thế nào trong dự đoán khối u ác tính?
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$):
- Về CA-125: Nhóm u ác tính có 75,0% bệnh nhân có nồng độ CA-125 $\ge 35$ U/ml trước mổ, trong khi ở nhóm u lành tính, có tới 93,6% bệnh nhân duy trì nồng độ CA-125 bình thường ($< 35$ U/ml).
- Về siêu âm: Nhóm u ác tính chủ yếu có hình ảnh âm vang hỗn hợp (chiếm 62,5%) và có tới 50,0% trường hợp phát hiện cấu trúc nhú trong lòng khối u (trong khi nhóm lành tính không có ca nào xuất hiện nhú).
4. Phẫu thuật nội soi điều trị u buồng trứng ở phụ nữ mãn kinh đạt hiệu quả và độ an toàn ra sao?
Phẫu thuật nội soi được chỉ định thực hiện trên 88,6% tổng số bệnh nhân (chiếm 98,4% nhóm u lành tính). Kỹ thuật này đạt độ an toàn tuyệt đối với tỷ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ là 0%, không có ca nào phải chuyển đổi sang mổ mở. Thời gian phẫu thuật nội soi trung bình là $42,2 \pm 13,3$ phút, ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với mổ mở ($97,5 \pm 27,7$ phút), giúp người bệnh phục hồi nhanh chóng với thời gian nằm viện trung bình chỉ $2,6 \pm 1,7$ ngày (81,4% ra viện trong vòng 3 ngày).
5. Tiền sử vết mổ cũ ở ổ bụng có cản trở việc chỉ định phẫu thuật nội soi u buồng trứng không?
Nghiên cứu ghi nhận 20,0% bệnh nhân (14 ca) có tiền sử vết mổ cũ ở bụng, trong đó có 11 ca có 1 vết mổ cũ và 3 ca có từ 2 vết mổ cũ trở lên (chủ yếu là mổ lấy thai, mổ cắt u buồng trứng hoặc cắt polyp đại tràng). Cả 3 trường hợp có từ 2 lần mổ cũ trở lên đều được thực hiện phẫu thuật nội soi thành công, an toàn và không xảy ra tai biến thủng tạng rỗng hay chảy máu, chứng minh tiền sử mổ cũ không phải là chống chỉ định tuyệt đối của phẫu thuật nội soi hiện nay.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Thị Thuý Ngân đã cung cấp dữ liệu lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị ngoại khoa trên 70 bệnh nhân u buồng trứng mãn kinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. Đa số khối u ở nhóm tuổi này là tổn thương thực thể lành tính (88,6%), phát hiện chủ yếu qua thăm khám phụ khoa định kỳ và siêu âm; các dấu hiệu âm vang hỗn hợp, chồi nhú trên siêu âm cùng nồng độ CA-125 tăng cao là các chỉ số có giá trị định hướng ác tính rõ rệt. Phẫu thuật nội soi cắt hai phần phụ thể hiện tính ưu việt vượt trội ở nhóm u lành tính nhờ thời gian mổ ngắn, tỷ lệ tai biến 0% và thời gian hồi phục nhanh, kể cả trên bệnh nhân có vết mổ cũ ở bụng. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn lâm sàng cho các bác sĩ và học viên chuyên ngành Sản phụ khoa trong chiến lược tầm soát và xử trí khối u buồng trứng sau mãn kinh.