Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Đặc điểm giải phẫu, sinh lý, mô học của buồng trứng 1. Giải phẫu buồng trứng Hình 1. Giải phẫu tử cung buồng trứng 6 * Cấu tạo: Buồng trứng không có phúc mạc che phủ mà được bao bọc bởi lớp áo trắng. Ngay dưới lớp áo trắng là vỏ buồng trứng.
Dưới lớp vỏ, thuộc phần trung tâm là tuỷ buồng trứng6. - Lớp áo trắng (tunica albuginea) là lớp tế bào trụ phủ ngoài buồng trứng, thấy rõ ở buồng trứng của phụ nữ trẻ. Lớp tế bào này dẹt dần theo tuổi và làm cho buồng trứng có màu xám đục, khác với màu sáng bóng của phúc mạc. Vùng chuyển tiếp giữa lớp tế bào trụ phủ buồng trứng và lớp trung mô dẹt của phúc mạc là một đường trắng mảnh dọc theo bờ mạc treo của buồng trứng6.
- Vỏ buồng trứng (cortex ovarii) là lớp dày nằm ngay dưới lớp áo trắng. Lớp vỏ buồng trứng chứa các nang buồng trứng (folliculi ovarii) và thể vàng (corpus luteum). Trong lớp mô đệm (stroma ovarii) của vỏ buồng trứng có các 4 sợi mô liên kết lưới và rất nhiều tế bào hình thoi cùng các tế bào cơ trơn6. - Tuỷ buồng trứng (medulla ovarii) tập trung ở phần trung tâm của buồng trứng.
Tuỷ buồng trứng bao gồm mô đệm được cấu tạo bởi mô liên kết có nhiều sợi chun, một số tế bào cơ trơn cùng rất nhiều mạch máu, đặc biệt là tĩnh mạch. Tuỷ buồng trứng nhiều mạch máu hơn ở lớp vỏ6. - Nang trứng: bé gái vừa ra đời, trong lớp vỏ buồng trứng đã có rất nhiều nang trứng nguyên thuỷ (folliculi ovarii prim arii). Mỗi nang trứng nguyên thuỷ có một tế bào trung tâm lớn gọi là noãn, được bao quanh bởi một lốp tế bào trụ nhỏ hay tế bào dẹt gọi là các tế bào nang.
Trong tuổi niên thiếu và sau dậy thì, rất nhiều nang trứng bị thoái hoá. Sau dậy thì, một số nang trứng nguyên thuỷ phát triển hàng tháng tạo nên các nang trứng bọng (nang trứng chín) (folliculi ovarii vesiculosi). Một trong số các nang trứng bọng này chín và vỡ ra. Đó là hiện tượng rụng trứng (ovolatio).
Từ sau tuổi dậy thì tới lúc mãn kinh, lớp vỏ buồng trứng có rất nhiều nang trứng, thể vàng ở trong mọi giai đoạn của sự phát triển6. - Thể vàng (corpus luteum): sau khi phóng noãn, thành của nang trứng bọng xẹp xuống, tạo thành các nếp gấp. Các tế bào của màng hạt to ra nhanh và chứa sắc tố vàng trong bào tương, trở thành các tế bào vàng (luteal cells). Các tế bào này tạo nên thể vàng.
Thể vàng hoạt động từ 12 đến 14 ngày sau rụng trứng. Nếu không có thai, thể vàng thoái hoá mỡ và xuất hiện nhiều mô sợi tạo nên thể trắng (corpus albicans). Trong thể vàng, ngoài những tế bào vàng to sản sinh ra hormon progesteron, còn có các tế bào cạnh vàng (paraluteal cells) nhỏ sản xuất ra hormon estrogen. Thể vàng tồn tại trong chu kỳ kinh nguyệt (trong trường hợp không có thai) khoảng 12 đến 14 ngày và có đường kính khoảng 1cm ở người mang thai, thể vàng hoạt động trong suốt giai đoạn mang thai và giữa giai đoạn mang thai, thể vàng có đường kính khoảng 2,5cm6.
* Phương tiện giữ buồng trứng Buồng trứng được giữ tại chỗ trong ổ phúc mạc nhờ một hệ thống 5 dây chằng: - Mạc treo buồng trứng (Ovarian mesentery) là nếp phúc mạc nối buồng trứng vào lá sau dây chằng rộng. Buồng trứng không được phúc mạc bao phủ hoàn toàn như các tạng khác. Phúc mạc chỉ dính vào buồng trứng theo một đường dọc của bờ mạc treo6. - Dây chằng treo buồng trứng (ligamentum suspensorium ovarii).
Dây chằng này bám vào đầu vòi của buồng trứng, từ đó chạy lên trên dưới phúc mạc thành bắt chéo bó mạch chậu ngoài để tận hết ỏ thành lưng phía sau manh tràng hay đại tràng lên. Dây chằng chủ yếu được cấu tạo bởi mạch và thần kinh buồng trứng6. - Dây chằng riêng buồng trứng (ligam entum ovarii proprium) là một dải mô liên kết nằm giữa hai lá dây chằng rộng, đi từ đầu tử cung của buồng trứng tới góc bên của tử cung ngay phía sau và dưới vòi tử cung. - Dây chằng vòi buồng trứng: là một dây chằng ngắn đi từ đầu vòi của buồng trứng tới mặt ngoài của phễu vòi tử cung.
Có một tua của phễu dính vào dây chằng này6. * Mạch và thần kinh a) Động mạch - Buồng trứng được cấp máu bởi động mạch buồng trứng và nhánh buồng trứng (ramus ovaricus) của động mạch tử cung. Động mạch buồng trứng (A. ovarica) tách từ động mạch chủ bụng, dưới nguyên ủy của động mạch thận.
Đường đi gần giống động mạch tinh hoàn ở nam giới. Khi tới eo trên, động mạch bắt chéo phần trên của động mạch và tĩnh mạch chậu ngoài rồi vào trong chậu hông. Động mạch chạy bên trong dây chằng treo buồng trứng, giữa hai lá của dây chằng rộng và nằm dưới vòi tử cung. Từ đó động mạch chạy ra sau giữa hai lá của mạc treo buồng trứng, phân nhánh cho buồng trứng.
Động mạch buồng trứng còn tách ra nhánh cho niệu quản (rami ureterici) và các nhánh vòi tử cung (rami tubarii)6. 6 b) Tĩnh mạch: Tĩnh mạch chạy theo động mạch, tạo thành đám rối hình dây cuốn (plexus pampiniíormis) ở gần rốn buồng trứng6. c) Bạch huyết: Mạch bạch huyết của buồng trứng đổ vào các hạch bạch huyết cạnh động mạch chủ6. d) Thần kinh: Từ đám rối buồng trứng (plexus ovaricus) đi theo động mạch buồng trứng vào buồng trứng6.
* Vật trên buồng trứng và vật canh buồng trứng Vật trên buồng trứng (epoophoron - cơ quan Rosenmuler) là di tích của những ống trung thận ngang và đoạn ống trung thận dọc bên cạnh buồng trứng. Vật trên buồng trứng bao gồm từ 10-15 tiểu quản ngang (ductuli transversi) hội tụ về phía buồng trứng. Một đầu của tiểu quản đóng kín, đầu kia mở vào một ống dọc, gọi là ống dọc của vật trên buồng trứng (ductus epoophorontis longitudinalis). Giữa vật trên buồng trứng và tua vòi thường có một vài bọng nhỏ là di tích của các ống trung thận ngang và ống trung thận dọc nằm ở phía trên buồng trứng, gọi là mẩu phụ hình bóng (appendices vesiculosae).
Vật cạnh buồng trứng (paroophoron) là di tích của đoạn ống trung thận dọc nằm ngay dưới buồng trứng. Vật cạnh buồng trứng gồm một vài tiểu quản rải rác nằm trong dây chằng rộng giữa vật trên buồng trứng và tử cung6. * Vị trí và hình thể: Buồng trứng hình hạt đậu nằm áp vào thành bên chậu hông bé, trong hố buồng trứng thuộc cánh sau dây chằng rộng, dưới eo 10mm. Hố buồng trứng được giới hạn bởi phía trên là động mạch chậu ngoài, phía dưới là động mạch tử cung, phía sau là động mạch chậu, trong cùng là niệu quản cùng bên.
Khi phẫu thuật có thể tiếp cận buồng trứng từ điểm giữa đường nối gai chậu trước trên và khớp mu6. - Hình dạng và kích thước6: + Hình dạng: Buồng trứng có hình hạt thị, hơi dẹt với hai mặt trong và ngoài, hai cực trên và dưới. 7 + Kích thước: Dài 4 cm, rộng 2 cm, dày 1 cm ở người trưởng thành. - Trọng lượng trung bình 6 - 8 gam6.
* Liên quan của buồng trứng6: - Mặt ngoài liên quan với thành bên chậu hông, nằm trong hố buồng trứng. Hố buồng trứng được giới hạn bởi: + Phía trên là động mạch chậu ngoài + Phía sau là động mạch tử cung + Phía trước là nơi bám của dây chằng rộng vào thành chậu hông. + Mặt trong: liên quan với vòi tử cung, ruột non, bên phải liên quan với ruột thừa, bên trái liên quan với đại tràng sigma. * Chức năng sinh lý buồng trứng - Buồng trứng là một tuyến kép vừa có chức năng nội tiết vừa có chức năng ngoại tiết, hai chức năng này liên quan mật thiết với nhau, trong đó chức năng nội tiết đóng vai trò quan trọng quyết định chức năng ngoại tiết7: - Chức năng ngoại tiết: buồng trứng có rất nhiều nang noãn, số lượng nang noãn giảm dần theo thời gian.
Trong mỗi vòng kinh thường chỉ có một nang noãn phát triển để trở thành nang De Graff đó là nang nhạy nhất trong vòng kinh ấy, dưới sự tác dụng của LH nang noãn chín rồi vỡ giải phóng ra ngoài đó là hiện tượng phóng noãn7. - Nang noãn có thể được coi là một đơn vị hoạt động của buồng trứng về cả hai phương diện sinh sản và nội tiết. Nang noãn có khả năng giải phóng ra một noãn chín để thụ tinh đồng thời các hormon của nang noãn và hoàng thể đủ để làm thay đổi niêm mạc tử cung giúp cho trứng có khả năng làm tổ và nếu noãn không được thụ tinh thì sự thay đổi của niêm mạc tử cung cũng đủ để tạo ra kinh nguyệt7. - Chức năng nội tiết của buồng trứng được điều hòa bởi trục dưới đồi tuyến yên thông qua các yếu tố: GnRH, FSH, LH.
Buồng trứng tạo ra hormon sinh dục chính là estrogen, progesteron và androgen, các hormon này có nhân steroid 8 nên còn gọi là steroid sinh dục. Vỏ nang trong tiết ra estrogen, các tế bào hạt của hoàng thể tiết ra progesteron, các tế bào của rốn buồng trứng tiết ra androgen (hormon nam)7. - Hai hormon estrogen và progesteron chi phối quá trình hình thành các đặc điểm giới tính ở phụ nữ cũng như quá trình phát triển của nang trứng để chuẩn bị cơ sở cho việc nuôi dưỡng phôi và thai7. Các giai đoạn phát triển sinh lý của nang trứng7 * Mô học buồng trứng 3 - Phôi thai: buồng trứng có nguồn gốc từ ụ sinh dục.
- Buồng trứng chia làm hai phần là vùng vỏ và vùng tủy + Vùng tủy: ở trung tâm, hẹp nằm trong cùng của buồng trứng, là đường đi của của các mạch máu và thần kinh của buồng trứng. Được cấu tạo bởi các liên kết xơ nằm bao quanh các mạch máu và các mạch bạch huyết của buồng trứng. Vùng tuỷ còn có cấu trúc dạng lưới và các tế bào vùng rốn, là nơi sản sinh ra androgen. + Vùng vỏ: có hai lớp: o Biểu mô: có nguồn gốc từ biểu mô phủ mầm tuyến sinh dục.
o Mô liên kết: dưới lớp biểu mô, cấu tạo bởi các tế bào sợi non hình thoi và các chất gian bào. Trong mô liên kết chứa các khối hình cầu gọi là các nang trứng ở các lứa tuổi khác nhau từ nguyên thủy tới trưởng thành. Phân loại các khối u buồng trứng Hình 1. Hình ảnh u buồng trứng (Nguồn TTYT Tân Yên) 1.