CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẦN LÝ HOẠT ĐỘNG KIÊM TRA NỘI BỘ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan van dé nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học của một số ước trên thế giới Nghiên cứu với tên: “ai trỏ của cơ quan Giáo dục địa phương trong việc điều hành quy trình năng lực của giáo viên: Làm việc hướng tới phương pháp tốt nha (The Local Edueation Authority's Role in operating teacher capability procedures: working (owards best practice) của tác giả Marchington L, Eamshaw J, Torrington D, Ritchie E. (2001) người Mỹ, đề cập về các nhân tổ tác động đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học của các trường học.
Nghiên cứu này được thực hiện trên một số trường tại Mỹ. Kết quả nghiền cứu chỉ ra rằng lãnh đạo trường học có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB, trong đó lãnh đạo, quản lý tốt hoạt động KTNB sẽ duy trì và hướng tới tầm nhìn rõ ràng vẻ sự phát triển của giáo dục [S0]. Trong nghiên cứu nhỉ hưởng của kiểm tra nội bộ trưởng học đến quan im của giảo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân” của hai tác giả người Anh là Hall, C. (2007) đã phân tích vẻ nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng khi Chính phủ Anh đưa ra chính sách yêu cầu các trường thực hiện công tác KTNB trưởng học |49] Tác giá Ah- Teck, 1.
Vulliamy (University of York), Kirsti Hakkinen and Seppo Hamalainen (University of Jyvaskyla) trong nghiên cứu “7ự đánh giá. Phân tích so sảnh vẻ chỉnh sách và thực tiễn ở các trường tiểu học ở Anh và Phần Lan” (Self-Evaluation? A Comparative Analysis of Poliey and Practice in Primary Schools in England and Finland) đã chỉ ra tính hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ ở trường học của hai quốc gia Anh va Phần Lan có sự khác biệt lớn. Ở Anh, trách nhiệm giải trình từ bên ngoài đã được áp dụng đối với các trường học thông qua các cuộc thanh tra của Văn phỏng Tiêu chuẩn trong Giáo dục (OFSTED), tác động cúa thanh tra OFSTED chủ yết là về các chính sách và thú tục, hơn là với ic thực hành trên lớp, và ảnh hưởng đến tỉnh thần của giáo vi |. CO nhieu bao cáo dưới sự tác động của các cuộc thanh tra OFSTED đã làm suy nhược tình than cua nhiều giáo viên.
Trong khi đỏ, tại Phần Lan, mặc dủ những nỗ lực ban đầu trong việc tự đảnh giả ở trường chưa cỏ chiến lược chung cho toàn trưởng, quyền đánh giá giáo viên, củng với sự phản hồi của phụ huynh và tự đánh giá của học sinh, đã góp phần tạo ra những thay. đổi tích cực trong thực hảnh trên lớp ở các trường học [52] Tác giá MeNaughton, S. (2012) nghiên cứu “Kiểm tra tỉnh hiệu quả của mô hình kiểm tra nội bộ trường học" (School Effectiveness and School Improvement) tại 07 trường đa văn hỏa, đa sắc tộc tại nước Mỹ. Nghiên cứu nảy trình bảy tính hiệu quả của mô hình KTNB trường học phục vụ việc dạy và học của các trường học thuộc cộng đồng bản dia [51].
Trong nghiên cứu về tác động của kiểm tra trường học/ đánh giá ngoài (School Inspection/External School Evaluation) tại một số trường học ở nước Anh, tác giả C. Earley xem xét vai trò của thanh tra trường học, đánh giá ngoải trong giáo dục và khám phá mối quan hệ giữa thanh tra và cải tiến trường học. Dựa trên các vi du từ các hệ thống giáo dục khác nhau và các nghiên cứu có liên quan, các tác giả lập luận rằng việc kiểm tra nội bộ và kiểm tra, đánh giá bên ngoài là các quá trình bố sung cần thiết và cỏ vai trò quan trọng nếu việc kiểm tra nhị ưu hóa đồng góp của nó cho nhả trưởng tạo nên sự cải tiến. Các tác giả kết luận rằng mức độ nổi bật tương đối của việc kiếm tra nội bộ và kiểm tra bên ngoài có nhiều thay đổi tủy thuộc.
vào các yếu tố: Mức độ hoàn thiện của hệ thống giáo dục, bối cảnh của từng trường. học, và quan trọng nhất là năng lực nội bộ của các trường trong việc tự đánh giá [48]. Trong nghiên cứu “Kiểm tra trưởng học: những kinh nghiệm gân đây trong các hệ thông giáo dục có hiệu suất cao” (School inspection: recent experiences in high performing education systems) do K Whitby thực hiện ở sảu nước cỏ nền giáo dục phát triển: Anh, Hồng Kông, New Zealand, Scotland, Singapore va Ha Lan đã tôm tắt các tải liệu hiện có trong lĩnh vực kiểm tra trưởng học bằng cách xem xét lỷ do tại sao. giáo dục được kiêm tra, liệu các hệ thống kiểm tra nên được tự kiểm soát hay được .m soát bên ngoài (hoặc cả hai hình thức), ai và những gì được kiểm tra, và các bên liên quan trong các quy trình và sản phẩm cúa kiểm tra.
Kết quả chỉ ra rằng, tất cả các hệ thống giáo dục hiệu suất cao kiểm tra trường học đề nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, nhưng vẫn có hạn chế về tác động hoặc thành công lâu dải của công tác kiểm tra. Phần lớn các hệ thống giáo dục hiệu suất cao sử dụng kết hợp giữa tự đánh của trường và kiểm tra bên ngoài, tuy nhiên có thể có mâu thuẫn giữa hai hệ thống nảy. Giữa các quốc gia có sự giếng nhau về mức độ các tiêu chí và các loại hình kiểm. tra, tuy nhiên sự hướng dẫn và hỗ trợ (tự đánh giá và kiểm tra bên ngoài) của các cấp quản lý cho các trường học đã ảnh hưởng rõ rệt đến tác động của thanh tra đối với các trưởng học [53] 1.
Các nghiên cứu về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học ở trong nước. Tác giả Hà Sĩ Hồ đã khẳng địi “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng vì quả trình quản đồi hỏi những thông tim chỉnh xác, kịp thời về thực trạng của đổi tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chỉnh xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý. Quản lý mà không quan ly sé it hiệu quả và trở thành quản lý quan liêu”. Trong cuỗn “Những bài giảng về quản li trường học”, tác giả cũng khẳng định rằng ®Quản lí mà không kiểm tra thi quản li sé it hiệu quả và trở thành quản lỉ quan liêu ” [19].
Tác giả Trần Kiểm, mục địch cuối củng cúa kiểm tra là điều chỉnh quyết định quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu quản lý đã để ra. Tuy nhiên, đây chỉ là mục đích tự thân của quân lý. Ngoài mục đích này, kiêm tra còn phải gắn với mục đích phat triển của tô chức vả cá nhân. tra không chỉ là điều chỉnh, mà kiểm tra còn là phát triển.
KTNB nhà trường là chức năng quản lý cơ bản, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý, đảm bảo tạo lập mỗi liên hệ ngược thưởng xuyên, kịp thời, giúp hiệu trưởng hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quả trình quân lý nhà trường. KTNB nhà trường là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo [21] Như vậy, kiêm tra vừa là tiền để, vừa là điều kiện đê đảm báo thực hiện các mục tiêu giáo dục. Thực tế cho thấy, nếu kiểm tra đánh giá chính xác, chân thực sẽ giúp HT có thông tin chính xác về thực trạng của đơn vị mình cũng như xác định các ảnh hưởng, từ đó tim ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp điều chính, uốn nắn có hiệu quả.
Kiểm tra còn có tác dụng đôn đốc, thúc đây, hỗ trợ và giúp đỡ các đôi tượng kiêm tra làm việc tốt hơn, có hiệu quả hơn. Trong bài viết “Vấn để cơ bản về quản lí giáo dục”, tác giả Đăng Quốc Báo xác định: Quản lí giáo dục có 4 chức năng cụ thê: Kế hoạch, chỉ huy, điều hành, kiểm tra, trong đó “kiểm tra là công việc gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu” [6] Cũng theo tác giá Đặng Quốc Báo, trong mười năng lực mang tỉnh học thuật của người hiệu trưởng thì cỏ hai năng lực giám sát và kiểm tra. Hai năng lực này hỗ trợ, bô sung cho nhau và giúp cho người hiệu trường phát triển được cả cái tài, cái tầm trong điều hành nhà trường. Người có tải là người việc sai mà sửa được, việc xắu mà ngăn được, việc hỏng mà vớt được.
Người có tẩm là người chưa có việc mà biết việc sắp tới, mới đã biết diễn biến của việc ra sao, triển khai việc mà dự đoán được kết quá cuối. Năng lực kiểm tra giúp cho người hiệu trưởng phát triển được cái tài, còn năng lực giám sát giúp cho người hiệu trưởng phát triển được cái tầm trong điều hành nhà trường. Tác giả Huỳnh Viết Trung trong luận văn “Kiểm tra nội bộ tại các trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bản tỉnh Đãk Lãk” (2017), với hướng tiếp cân về tổ chức học trong quản lý và kiểm tra, đã làm rõ các lý luận về “tổ chức vả phát triền tổ chức; mô hình Quản lý vả kiểm tra trong tô chức”, đồng thời để xuất các biện pháp tô chức hoạt động kiểm tra nội bộ tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên trên địa bản tinh Dak Lãk: Hoàn thiện chú thể hoạt động kiêm tra nội bộ; hoàn thiện đối tượng. kiểm tra nội bộ; hoàn thiện cơ chế kiểm tra nội b: loản thiện các điều kiện phục vụ kiểm tra nội bộ [42] Nghiên cửu của tác giá Bủi Xuân Sÿ trong luận văn thạc sĩ quản lý giảo dục “Quản lý hoạt động kiểm tra nội hộ tại các.