Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (tỉnh Thanh Hóa) được đánh giá là khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao với các kiểu rừng trên núi đá vôi và núi đất thuộc dải Pù Luông - Cúc Phương. Trong hệ thống phân loại sinh vật chỉ thị môi trường, côn trùng thuộc bộ Cánh vẫy (Lepidoptera) hoạt động ban ngày (bướm ngày) giữ vai trò quan trọng nhờ tính nhạy cảm với biến động sinh cảnh thực vật, thảm hoa và vi khí hậu. Tuy nhiên, trước các tác động từ việc thu hẹp sinh cảnh, khai thác gỗ, săn bắt thương mại và áp lực sản xuất nông lâm nghiệp của cộng đồng dân cư vùng đệm, tài nguyên sinh vật tại đây đứng trước nguy cơ suy giảm. Trong khi các nghiên cứu trước đó tại Pù Luông chủ yếu tập trung vào hệ thực vật bậc cao và các loài động vật có xương sống (đặc biệt là loài Voọc mông trắng Trachypithecus delacouri), dữ liệu chuyên sâu về côn trùng bộ Cánh vẫy hoạt động ban ngày vẫn còn phân tán và chưa đầy đủ.
Trước thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường (Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp) do sinh viên Nguyễn Thị Hồng thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Nguyễn Thế Nhã đã đặt ra các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu chung: Góp phần tăng tính đa dạng sinh học loài bướm ngày ở khu vực nghiên cứu.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá tính đa dạng sinh học của loài bướm ngày ở khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài bướm ngày ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông.
- Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định thành phần loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá mức độ đa dạng của các loài bướm ngày (đa dạng thành phần loài, đa dạng hình thái).
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài bướm ngày chính trong khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ nhằm tăng tính đa dạng sinh học của các loài bướm ngày trong khu vực nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Chủ yếu là pha trưởng thành của các loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẫy (Lepidoptera) hoạt động ban ngày.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tập trung thực địa trên địa bàn xã Lũng Cao, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa thông qua 3 tuyến điều tra đi qua 7 dạng sinh cảnh chính.
- Thời gian: Thực hiện trong 4 đợt khảo sát thực địa từ tháng 2/2011 đến tháng 3/2011 (Đợt 1: 15/02 - 22/02/2011; Đợt 2: 28/02 - 06/03/2011; Đợt 3: 11/03 - 18/03/2011; Đợt 4: 25/03 - 31/03/2011).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa cơ sở lý thuyết sinh thái học côn trùng và các công trình nghiên cứu về bướm ngày trên thế giới như các nguyên lý về mối quan hệ giữa độ phong phú loài bướm với độ che phủ và diễn thế thực vật của New (1997), Thomas & Mallorie (1985), Thomas (1991) và Schappert (2000). Tại Việt Nam, tác giả tham khảo các báo cáo điều tra côn trùng miền Bắc (Viện Bảo vệ Thực vật, 1976), nghiên cứu phân bố đai cao của Vũ Văn Liên (2002, 2005), so sánh độ tương đồng quần xã của Tạ Huy Thịnh & Hoàng Vũ Trụ (2004), dữ liệu sinh thái học của Đặng Thị Đáp và cộng sự tại Tam Đảo, cùng công trình nền tảng "Khu hệ bướm của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa, Bắc Trung Bộ Việt Nam" của Alexander L. Monastyrskii (Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga, 2004).
Để thực hiện công tác giám định và phân loại hình thái tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ thực vật (Trường Đại học Lâm nghiệp), khóa luận sử dụng hệ thống khóa phân loại từ các tài liệu: Bảo tàng Côn trùng (Lý Tương Đào), Côn trùng rừng (Lý Thành Đức), Sách ghi chép Côn trùng Trung Quốc (Lý Cựu Thịnh), Nhận biết những loài Bướm nổi tiếng trên Thế giới (Ngô Vân), và Bướm Vân Nam (Phòng nghiên cứu côn trùng, Viện Khoa học Trung Quốc).
Phương pháp nghiên cứu thực địa kết hợp điều tra tuyến và điều tra điểm theo các bước kỹ thuật:
- Thiết lập tuyến và điểm điều tra: Bố trí 3 tuyến điều tra cắt ngang qua các dạng địa hình và sinh cảnh đại diện tại xã Lũng Cao, tổng cộng 30 điểm điều tra:
- Tuyến 1: Từ UBND xã Lũng Cao đi Bản Nủa, chiều dài 4 km (gồm 6 điểm điều tra).
- Tuyến 2: Từ Đập Nủa đi Bản Đôn, chiều dài 8 km (gồm 10 điểm điều tra).
- Tuyến 3: Từ Bản Nủa đi Bản Cao Hoong, chiều dài 10 km (gồm 14 điểm điều tra).
- Phân loại 7 dạng sinh cảnh khảo sát:
- Rừng thứ sinh ven suối (ký hiệu A - 3 điểm)
- Rừng trồng Keo tai tượng (ký hiệu B - 5 điểm)
- Rừng tre, luồng tự nhiên (ký hiệu C - 6 điểm)
- Vườn cây ăn quả (ký hiệu D - 2 điểm)
- Rừng thứ sinh phục hồi (ký hiệu E - 4 điểm)
- Trảng cỏ cây bụi (ký hiệu F - 4 điểm)
- Rừng tự nhiên trạng thái IIb (ký hiệu G - 6 điểm)
- Thu mẫu và xử lý mẫu vật: Sử dụng vợt bắt bướm bằng vải màn hình thang (đường kính miệng 30 cm, đáy 40-50 cm, cán dài 1 m), bảo quản tạm thời bằng bao giấy tam giác gấp chéo và lọ nhựa (miệng 20 cm, cao 25 cm). Tiêu bản được cắm kim côn trùng bằng thép không gỉ (dài 38-40 mm) thẳng góc với trục thân tại vị trí đốt ngực trước (tỷ lệ 1/3 kim ở trên, 2/3 kim ở dưới), trải cánh trên bàn trải mút xốp định hình bằng nẹp giấy, sấy khô trong tủ sấy từ 2-3 ngày ở nhiệt độ 35-45°C.
- Phương pháp xử lý số liệu: Tính tỷ lệ bắt gặp $P%$ để phân hạng mức độ thường gặp:
$$P% = \left(\frac{\text{Tổng số điểm có loài xuất hiện}}{\text{Tổng số điểm điều tra } (n=30)}\right) \times 100$$
- Loài thường gặp: $P% > 50%$
- Loài ít gặp: $25% \le P% \le 50%$
- Loài ngẫu nhiên gặp: $P% < 25%$
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết lịch sử nghiên cứu côn trùng bộ Cánh vẫy trên thế giới và tại Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, các công trình tập trung vào mối quan hệ giữa tính đa dạng loài bướm với cấu trúc sinh cảnh, diễn thế rừng và mức độ suy thoái môi trường do nạn phá rừng. Tại Việt Nam, giai đoạn đầu các nghiên cứu bướm chủ yếu gắn liền với côn trùng nông nghiệp và phòng trừ sâu hại; sau đó mở rộng sang các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên như Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Bể, Hoàng Liên, Cát Tiên và Cát Bà. Riêng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, công trình năm 2004 của Alexander L. Monastyrskii đã ghi nhận 158 loài bướm thuộc 10 họ. Tuy nhiên, đợt khảo sát đó thực hiện vào mùa thu và mùa đông, trong khi nhiều loài bướm vùng Bắc Trung Bộ sinh sản đơn thế hệ và chỉ xuất hiện pha trưởng thành vào mùa xuân hoặc đầu hạ, dẫn đến danh lục loài của khu hệ vẫn cần được điều tra bổ sung.
Chương 2: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chuẩn bị trang thiết bị, nhân lực, kiến thức nhận dạng thực địa và phương thức tổ chức 4 đợt thu mẫu tại hiện trường. Tác giả lập bảng danh mục 30 điểm điều tra, ghi nhận các đặc trưng thực bì ưu thế tại từng điểm (như Đơn buốt, Cỏ lào, Bọt ếch, Cỏ lá tre, Mua mua, Sim, Mâm xôi, Sa nhân, Chuối rừng, Ba đậu). Chương này chuẩn hóa mẫu biểu phiếu điều tra côn trùng ngoài thực địa, mẫu bảng ghi nhận thức ăn của sâu non/trưởng thành, đồng thời chi tiết hóa thao tác kỹ thuật làm tiêu bản cắm kim, trải cánh và công thức tính toán chỉ số bắt gặp $P%$.
Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông
Chương 3 trình bày các thông số nền tảng của địa bàn nghiên cứu:
- Vị trí và quy mô: Tọa độ 20°21' - 20°34' vĩ độ Bắc, 105°02' - 105°20' kinh độ Đông, trải rộng trên địa bàn 9 xã thuộc 2 huyện Quan Hóa và Bá Thước. Diện tích tự nhiên 17.662 ha, bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 13.320 ha và phân khu phục hồi sinh thái 4.342 ha. Vùng lõi gồm hai dải núi song song chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (dãy Tây Nam rộng 4.598 ha, dãy Đông Bắc rộng 8.722 ha) ngăn cách bởi thung lũng có người sinh sống.
- Địa chất và thủy văn: Nằm giữa hai đứt gãy sông Mã và sông Đà, cấu tạo địa chất chia đôi rõ rệt: phần Đông Bắc chủ yếu là đá trầm tích vôi karst phát triển nhiều hang động; phần Tây Nam là đá macma và bazan hình thành đỉnh núi Pù Luông cao 1.650 m. Hệ thống thoát nước gồm hai phụ lưu suối Pùng và suối Chăm đổ vào sông Mã, kết hợp mạng lưới sông ngầm phức tạp.
- Khí hậu: Nhiệt độ trung bình năm 20-25°C, cực đại 37-39°C, cực tiểu 5-10°C (vùng cao Sơn - Bá - Mười có thể xuống điểm đóng băng); lượng mưa tập trung 65-70% vào tháng 7 đến tháng 9, có mưa phùn vào mùa xuân và ảnh hưởng gió Lào khô nóng vào tháng 4-5.
- Dân sinh - kinh tế: Dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái và Mường (>95%). Toàn khu bảo tồn có khoảng 5.000 hộ với 18.425 lao động; riêng vùng lõi có khoảng 387 hộ với 1.822 nhân khẩu sinh sống tại 8 bản. Đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 7,7% diện tích, bình quân lương thực đạt 250 kg thóc/người/năm, người dân thiếu ăn từ 2-4 tháng/năm. Hoạt động khai thác lâm sản phụ (gỗ lạt, củi, măng, dược liệu, săn bắt động vật nhỏ) tạo áp lực trực tiếp lên hệ sinh thái rừng.
- Tài nguyên sinh vật: Đã ghi nhận 552 loài thực vật bậc cao (39 loài trong Sách đỏ Việt Nam) và hệ động vật phong phú gồm thú, chim, bò sát, lưỡng cư và linh trưởng quý hiếm.
Chương 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương 4 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận:
- Thành phần loài bướm ngày: Thu thập và giám định được 56 loài bướm ngày thuộc 46 giống và 9 họ. Họ Nymphalidae (Bướm giáp) chiếm ưu thế lớn nhất với 14 loài (25,00%) và 12 giống (26,10%). Đứng thứ hai là họ Lycaenidae (Bướm xanh) với 9 loài (16,10%) và 8 giống (17,40%) cùng họ Pieridae (Bướm phấn) với 9 loài (16,10%) và 7 giống (15,20%).
- Mức độ thường gặp: 47 loài ngẫu nhiên gặp ($P% < 25%$, chiếm 83,90%); 6 loài ít gặp ($25% \le P% \le 50%$, chiếm 10,70%); và 3 loài thường gặp ($P% > 50%$, chiếm 5,36%). 3 loài thường gặp gồm Delias pasithoe ($P% = 56,70%$), Pieris canidia ($P% = 53,30%$) và Zemeros flegyas ($P% = 53,30%$).
- Phân bố theo sinh cảnh: Rừng tự nhiên trạng thái IIb có độ đa dạng loài cao nhất với 42 loài (chiếm 75,00% tổng số loài thu được). Rừng tre, luồng tự nhiên ghi nhận 36 loài (64,29%); rừng trồng Keo tai tượng 34 loài (60,71%); rừng thứ sinh phục hồi 30 loài (53,57%); trảng cỏ cây bụi 28 loài (50,00%); vườn cây ăn quả 16 loài (28,57%); và thấp nhất là rừng thứ sinh ven suối với 9 loài (16,07%).
- Đặc điểm hình thái và tập tính: Phân tích 4 dạng cánh trước và 4 dạng cánh sau cơ bản liên quan đến khả năng ngụy trang và cơ chế bay. Khảo sát tập tính bay nhanh của họ Papilionidae, bay thành đàn sát mặt đất của họ Pieridae, bay thấp dẻo dai của họ Nymphalidae và sự gắn bó dinh dưỡng của bướm với các loài thực vật thảm tươi nhiều mật hoa.
- Giải pháp đề xuất: Xây dựng 4 nhóm giải pháp gồm: giải pháp đối với Ban quản lý khu bảo tồn, giải pháp liên ngành với chính quyền địa phương, giải pháp tuyên truyền cho cộng đồng thôn bản và giải pháp kỹ thuật lâm sinh (phục hồi rừng, bảo tồn thảm thực vật mật hoa).
Kết quả và đóng góp
Dữ liệu định lượng tổng hợp
Khóa luận đã hệ thống hóa cơ cấu phân loại học và độ phân bố của khu hệ bướm ngày qua các bảng số liệu chi tiết:
| TT |
Tên họ bướm |
Số giống |
Tỷ lệ giống (%) |
Số loài |
Tỷ lệ loài (%) |
| 1 |
Nymphalidae (Họ Bướm giáp) |
12 |
26,10 |
14 |
25,00 |
| 2 |
Pieridae (Họ Bướm phấn) |
7 |
15,20 |
9 |
16,10 |
| 3 |
Lycaenidae (Họ Bướm xanh) |
8 |
17,40 |
9 |
16,10 |
| 4 |
Satyridae (Họ Bướm mắt rắn) |
5 |
10,90 |
7 |
12,50 |
| 5 |
Papilionidae (Họ Bướm phượng) |
4 |
8,70 |
6 |
10,70 |
| 6 |
Danaidae (Họ Bướm đốm) |
4 |
8,70 |
5 |
8,93 |
| 7 |
Amathusiidae (Họ Bướm rừng) |
2 |
4,35 |
2 |
3,57 |
| 8 |
Riodinidae (Họ Bướm ngao) |
2 |
4,35 |
2 |
3,57 |
| 9 |
Hesperiidae (Họ Bướm nhảy) |
2 |
4,35 |
2 |
3,57 |
| Tổng |
9 họ |
46 |
100,00 |
56 |
100,00 |
Về sự phân bố theo các dạng sinh cảnh tại xã Lũng Cao:
| Dạng sinh cảnh khảo sát |
Số điểm điều tra |
Số loài xuất hiện |
Tỷ lệ so với tổng loài (%) |
| Rừng tự nhiên trạng thái IIb (G) |
6 |
42 |
75,00 |
| Rừng tre, luồng tự nhiên (C) |
6 |
36 |
64,29 |
| Rừng trồng Keo tai tượng (B) |
5 |
34 |
60,71 |
| Rừng thứ sinh phục hồi (E) |
4 |
30 |
53,57 |
| Trảng cỏ cây bụi (F) |
4 |
28 |
50,00 |
| Vườn cây ăn quả (D) |
2 |
16 |
28,57 |
| Rừng thứ sinh ven suối (A) |
3 |
9 |
16,07 |
Đóng góp mới so với các nghiên cứu trước
- Bổ sung danh lục phân loại: So sánh với danh lục 158 loài của Monastyrskii (2004), tác giả đã phát hiện và bổ sung 4 loài bướm mới cho danh lục Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, bao gồm:
- Catopsilia pomona Fabricius (thuộc họ Pieridae)
- Hypolimnas misippus Linnaeus (thuộc họ Nymphalidae)
- Potanthus rectifaciatus (thuộc họ Hesperiidae)
- Cùng 1 đại diện bổ sung thuộc danh lục thu mẫu đợt này.
- Bổ sung dữ liệu sinh học mùa xuân: Khắc phục khoảng trống thời gian của đợt khảo sát năm 2004 (vốn tiến hành vào mùa thu - đông), cung cấp dẫn liệu thực địa về sự xuất hiện của các loài vũ hóa trong tháng 2 và tháng 3.
- Hệ thống hóa hình thái học: Phân loại chi tiết các kiểu cánh trước (tam giác lồi, tam giác mép lõm, tam giác nhọn) và cánh sau (hình quạt đuôi dài, quạt mép răng cưa, quạt mép trơn, quạt đuôi ngắn) làm cơ sở nhận diện nhanh ngoài thực địa.
Các giải pháp quản lý đề xuất trong văn bản
- Đối với Ban quản lý Khu bảo tồn: Nâng cao năng lực tuần tra rừng; cấm triệt để việc khai thác, thu bắt bướm thương mại; đưa bướm ngày vào chương trình giám sát biến động đa dạng sinh học định kỳ; lập trạm nghiên cứu và xây dựng vườn mẫu sinh thái côn trùng.
- Đối với các cấp, ngành địa phương: Phối hợp quản lý vùng giáp ranh với tỉnh Hòa Bình; quy hoạch vùng canh tác nông lâm nghiệp ổn định nhằm giảm thiểu áp lực chuyển đổi đất rừng; quản lý chặt chẽ việc buôn bán và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học trong nông nghiệp.
- Đối với cộng đồng dân cư: Tuyên truyền giá trị sinh thái của bướm ngày; thực hiện giao khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng; phát triển sinh kế thay thế để hạn chế việc vào rừng khai thác gỗ, tre luồng và săn bắt thú.
- Phục hồi rừng và xây dựng vườn thực vật: Bảo vệ cấu trúc rừng tự nhiên nhiều tầng tán; duy trì các dải cây bụi thảm tươi bản địa có hoa giàu mật (như Đơn buốt, Cỏ lào, Mua mua, Sim, Mâm xôi) làm nguồn thức ăn cho sâu non và bướm trưởng thành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế được nêu trong văn bản:
- Khóa luận chỉ được tiến hành trong phạm vi 2 tháng vào mùa xuân (tháng 2 và tháng 3/2011) với 4 đợt khảo sát, chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ 4 mùa của năm. Nhiều loài bướm vùng nhiệt đới có tính đơn thế hệ và xuất hiện vào mùa hè hoặc mùa thu nên đợt khảo sát này chưa ghi nhận được (trong số 158 loài từng công bố, còn 106 loài chưa bắt gặp lại).
- Không gian điều tra thực địa mới chỉ tập trung trên địa bàn xã Lũng Cao (huyện Bá Thước), chưa mở rộng khảo sát sang 8 xã còn lại trong lâm phận khu bảo tồn (đặc biệt là các xã thuộc huyện Quan Hóa).
- Dữ liệu về chu kỳ sinh học của sâu non và cây thức ăn chuyên biệt mới dừng ở mức quan sát bước đầu, chưa nuôi dưỡng thực nghiệm toàn bộ vòng đời.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục điều tra bổ sung thành phần loài vào các thời điểm có đỉnh cao xuất hiện bướm ở miền Bắc (đặc biệt là tháng 5 và tháng 10).
- Mở rộng tuyến điều tra sang các phân khu địa hình khác nhau của dãy núi Pù Luông (bao gồm dải núi đá vôi phía Đông Bắc và dải núi đất macma phía Tây Nam).
- Nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa cây chủ của sâu non và bảo tồn các loài bướm quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và danh lục IUCN/CITES.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng và công tác nghiên cứu chuyên ngành:
- Sinh viên và học viên: Là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên các ngành Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, Lâm học, Bảo vệ thực vật, Sinh học và Khoa học môi trường trong việc tiếp cận phương pháp điều tra côn trùng ngoài thực địa, kỹ thuật thu mẫu bằng vợt, quy trình gấp bao giữ mẫu và kỹ thuật làm tiêu bản trải cánh chuẩn quy cách bảo tàng.
- Người làm đề tài tương tự: Cung cấp phương pháp luận mẫu mực về cách thiết lập tuyến, mã hóa điểm điều tra gắn liền với trạng thái thực bì, cũng như cách ứng dụng chỉ số bắt gặp $P%$ để phân hạng độ bắt gặp của côn trùng.
- Cán bộ bảo tồn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông: Cung cấp danh lục bổ sung 56 loài bướm ngày, bảng tra cứu mối quan hệ giữa bướm và 7 dạng sinh cảnh tại xã Lũng Cao, phục vụ công tác lập hồ sơ theo dõi diễn thế rừng và xây dựng kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học định kỳ.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài bướm ngày và họ nào chiếm số lượng lớn nhất?
Qua 4 đợt điều tra thực địa tại xã Lũng Cao, tác giả đã thu thập và giám định được 56 loài bướm ngày thuộc 46 giống và 9 họ. Trong đó, họ Bướm giáp (Nymphalidae) chiếm tỷ lệ đa dạng lớn nhất với 14 loài (chiếm 25,00% tổng số loài) và 12 giống (chiếm 26,10% tổng số giống).
2. Những loài bướm nào xuất hiện phổ biến nhất trong toàn bộ khu vực khảo sát?
Có 3 loài được xếp vào nhóm "thường gặp" với chỉ số bắt gặp $P% > 50%$, bao gồm: Delias pasithoe Linnaeus ($P% = 56,70%$), Pieris canidia Linnaeus ($P% = 53,30%$) và Zemeros flegyas Cramer ($P% = 53,30%$). Cả 3 loài này đều phân bố rộng khắp trên tất cả 7 dạng sinh cảnh khảo sát.
3. Nghiên cứu đã bổ sung được những loài bướm nào mới cho danh lục KBTTN Pù Luông?
So với công bố của Alexander L. Monastyrskii (2004) ghi nhận 158 loài bướm, khóa luận đã phát hiện và bổ sung 4 loài mới vào danh lục khu hệ bướm ngày Pù Luông, tiêu biểu là các loài: Catopsilia pomona Fabricius (họ Pieridae), Hypolimnas misippus Linnaeus (họ Nymphalidae) và Potanthus rectifaciatus (họ Hesperiidae).
4. Dạng sinh cảnh nào có số lượng loài bướm ngày tập trung cao nhất và thấp nhất?
Sinh cảnh có số lượng loài phong phú nhất là rừng tự nhiên trạng thái IIb với 42 loài (chiếm 75,00% tổng số loài thu được). Ngược lại, sinh cảnh ghi nhận số lượng loài thấp nhất là rừng thứ sinh ven suối với 9 loài (chiếm 16,07%).
5. Quy trình làm tiêu bản bướm được khóa luận hướng dẫn theo các bước kỹ thuật nào?
Quy trình làm tiêu bản gồm 3 bước kỹ thuật chính:
- Cắm ghim mẫu: Dùng kim thép không gỉ dài 38-40 mm cắm vuông góc với trục thân tại giữa đốt ngực trước, giữ tỷ lệ 1/3 kim ở trên và 2/3 kim ở dưới thân bướm.
- Sửa tư thế: Đặt bướm lên bàn trải mút xốp, dùng nẹp giấy và kim nhọn chỉnh mép sau cánh trước thẳng vuông góc với thân, tuyệt đối không sờ trực tiếp vào cánh làm mất vảy phấn.
- Sấy khô: Đưa giá bướm vào tủ sấy ở nhiệt độ 35-45°C trong 2-3 ngày hoặc đặt hộp tôn cạnh bếp lửa/than.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hồng đã phản ánh tính đa dạng sinh học của khu hệ bướm ngày tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông thông qua việc xác định 56 loài thuộc 46 giống và 9 họ. Nghiên cứu cung cấp số liệu thực chứng về sự phân bố không đồng đều của các loài bướm trên 7 dạng sinh cảnh, trong đó rừng tự nhiên trạng thái IIb giữ vai trò bảo tồn then chốt với 75% số loài xuất hiện. Đồng thời, việc bổ sung 4 loài mới vào danh lục khu hệ và đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý lâm sinh - xã hội đã mang lại cơ sở khoa học thiết thực cho công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.