ĐẶT VẤN ĐỀ Virus viêm gan B (hepatitis B virus: HBV) là một trong những virus gây bệnh viêm gan. Hiện nay ƣớc tính trên thế giới có khoảng 2 tỷ ngƣời nhiễm HBV, hơn 350 triệu ngƣời đang mang mầm bệnh và mỗi năm có hơn một triệu ngƣời chết vì các bệnh có liên quan đến HBV[61]. Virus viêm gan B gây ra những hậu quả nặng nề về thể chất, tinh thần, ảnh hƣởng đến tâm lý sinh hoạt của ngƣời dân trong cộng đồng[59]. Theo Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam đƣợc xếp vào vùng lƣu hành cao của HBV, qua nhiều nghiên cứu của các tác giả cho thấy tỉ lệ nhiễm HBV ở Việt Nam trung bình khoảng 10% đến 20%[62].
Theo một điều tra trên ngƣời dân tại Hà Nội năm 1998 tỷ lệ ngƣời mang kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) là 11,3%. Tại thành phố Hồ Chí Minh 10%. Các địa phƣơng khác cũng có nhiều báo cáo về tỷ lệ mang dấu ấn HBsAg nhƣ tại Tiền Giang 21,2%, tại Lâm Đồng 16,7%. Có tới 90% trẻ sơ sinh bị nhiễm virus viêm gan B sẽ trở thành ngƣời mang virus mãn tính, nhƣng tỷ lệ này giảm xuống còn 25-50% ở trẻ em bị nhiễm từ 1-5 tuổi và ở trẻ lớn hơn tỷ lệ này chỉ còn 5-10%[27],[11].
Chính vì vậy, những phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ mang HBsAg và bản thân những đứa con của họ là nguồn lây tiềm ẩn trong cộng đồng và chính tình trạng mang HBV ở lứa tuổi ấu thơ càng làm tăng nguy cơ mắc viêm gan mạn tính và ung thƣ gan nguyên phát [11], [45]. Tỷ lệ lây truyền HBV từ mẹ mang HBsAg sang con của mình trong thời kỳ chu sinh (lây truyền dọc) từ những nơi khác nhau trên thế giới: theo nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau cho thấy tỷ lệ lây truyền dọc thấp nhất là 8,3%, cao nhất là 73%. Tỷ lệ lây truyền dọc ở Indonesia: 37%, Singapore: 42,9%, Phillipin: 41,2%, Senegal: 14,3%, Ấn độ: 54%. Còn ở Việt Nam, theo tác giả Trần Thị Lợi tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ là 40%; Nguyễn Tuyết Nga (Hải Phòng): 17,81% [23]; Chu Thị Thu Hà (Hà Nội):55,2%[13]; Phạm Song (Hà Nội); 44,7% [28].
Để khắc phục nguy cơ lây truyền cũng nhƣ hậu quả nhiễm HBV, tiêm chủng vắc xin viêm gan B là một biện pháp có hiệu quả nhất để phòng nhiễm HBV và các 2 hậu quả của nó. Tiêm chủng viêm gan B có thể lòng ghép vào chƣơng trình TCMR của tổ chức Y tế thế giới và ở Việt Nam và đƣợc thực hiện năm 1997. Huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong nhiều năm nay đã thực hiện tiêm vắc xin dịch vụ phòng bệnh viêm gan B cho ngƣời dân nhất là phụ nữ tuổi sinh đẻ nhƣng đạt rất thấp, tỷ lệ phụ nữ tham gia kiểm soát các bệnh truyền nhiễm trƣớc sinh không cao. Hoạt động phát hiện sớm bệnh nhân nhiễm HBV còn phụ thuộc vào ý thức của ngƣời dân, thực hiện quản lý theo dõi và điều trị cho bệnh nhân viêm gan B chƣa thực hiện tại các trạm Y tế xã, phƣờng, thị trấn.
Thị trấn Mỹ Thọ nằm ngay trung tâm của Huyện Cao Lãnh với dân số 15.600, phụ nữ có con dƣới 1 tuổi hàng năm khoảng 180 bà. Tại đây chƣa có tác giả nào nghiên cứu về kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan về phòng nhiễm HBV ở bà mẹ có con dƣới 1 tuổi. Để bổ sung cho bản đồ dịch tễ học về tỷ lệ nhiễm HBsAg đặc biệt là đối với bà mẹ có con dƣới 1 tuổi, giúp cho các nhà hoạch định chính sách tại địa phƣơng có các thông tin cần thiết, làm cơ sở khoa học để thực hiện có hiệu quả chiến lƣợc tiêm chủng vắc xin VG B trƣớc 24 giờ sau sinh. Góp phần giảm tỷ lệ mắc VG B sơ sinh cũng nhƣ phòng những hậu quả của bệnh.Thêm vào đó, đánh giá đƣợc kiến thức, thực hành của các bà mẹ về việc phòng bệnh cho cá nhân, gia đình ngƣời thân làm cho công tác phòng nhiễm HBV tại địa phƣơng đƣợc hiệu quả hơn.
Để thực hiện đƣợc vấn đề này chúng tôi tiến hành “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng nhiễm HBV ở bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp năm 2015”. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất giải pháp phù hợp, nhằm nâng cao sự hiểu biết về bệnh cũng nhƣ phòng ngừa sự lây truyền của virus viêm gan B. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng nhiễm virus viêm gan B ở bà mẹ có con dƣới 1 tuổi tại Thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2015.
Xác định yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng nhiễm virus viêm gan B ở bà mẹ có con dƣới 1 tuổi tại Thị trấn Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2015. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về viêm gan do virus viêm gan B 1. Virus viêm gan B Năm 1963, Blumberg đã tìm ra trong máu của ngƣời Úc bản địa một kháng nguyên và đặt tên kháng nguyên Australia.
Sau đó kháng nguyên này đƣợc tìm thấy trong huyết thanh của bệnh nhân bị viêm gan. Ngày nay kháng nguyên Australia đƣợc biết là kháng nguyên bề mặt cả virus viêm gan B (HBV)[28]. HBV thuộc họ Hepadnaviridae có nhân là Deoxyribo nucleic acid (DNA). Hạt virus HBV đƣợc gọi là hạt Dane có hình cầu, đƣờng kính 42nm, gồm 3 lớp, lớp bao ngoài dày 7nm, vỏ capsit hình hộp đƣờng kính 27-28nm và lõi chứa bộ gen của virus.
Quan sát huyết thanh ngƣời bị nhiễm HBV bằng kính hiển vi điện tử thấy có 3 loại hình thể của HBV: các vi cầu có đƣờng kính 20-22nm, các hình ống nhỏ có kích thƣớc 20- 22nm x 40-400nm và các hạt hình cầu to là HBV hoàn chỉnh[17]. Bệnh viêm gan do virus viêm gan B Bệnh viêm gan do virus viêm gan B (HBV) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Sau khi xâm nhập vào tế bào gan, HBV nhân lên, lan tràn trong mô gan và lƣu hành trong tuần hoàn. Thời kỳ ủ bệnh của HBV khoảng 50 đến 180 ngày.
Đa số ngƣời nhiễm HBV mãn tính không có triệu chứng trong nhiều năm và có hoặc không có dấu hiệu bệnh gan về mặt sinh hóa hoặc mô học. Sau nhiễm HBV bệnh nhân có thể bình phục hay diễn tiến đến tình trạng viêm gan mạn tính[22]. Khi một ngƣời trƣởng thành bị nhiễm HBV, cơ thể ngƣời bị nhiễm bệnh có thể đáp ứng lại bằng nhiều cách khác nhau. Khoảng 50% các trƣờng hợp bị nhiễm HBV không có dấu hiệu lâm sàng, khoảng 49% ngƣời nhiễm HBV có dấu hiệu nhƣ sốt nhẹ, mệt mỏi, ăn mất ngon, nôn ói và khoảng 1% những ngƣời bị nhiễm HBV có biển hiện của viêm gan tối cấp.
Những ngƣời bị viêm gan tối cấp đột ngột bị suy sụp, mệt mỏi, vàng da, cổ trƣớng. Những ngƣời này nếu không đƣợc xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong. Ngƣời mang mầm bệnh HBV mạn tính có nguy cơ bị xơ gan và ung thƣ gan về sau[32]. 5 Viêm gan cấp tính: Trải qua 3 thời kỳ bao gồm thời kỳ ủ bệnh, thời kỳ khởi phát và thời kỳ toàn phát.
Tuy nhiên 90% đến 95% số ngƣời lớn nhiễm HBV sẽ hồi phục và khoảng 5% đến 10% ngƣời bị nhiễm trở thành nhiễm HBV mạn tính. Những ngƣời này thƣờng không nhận biết họ đã nhiễm HBV nếu không làm xét nhiệm máu. Trong giai đoạn đầu, ngƣời bệnh có thể có các triệu chứng mệt mỏi toàn thân, đau mỏi khớp, sốt nhẹ và hội chứng tiêu hóa với các triệu chứng chán ăn, buồn nôn, táo bón hoặc tiêu chảy. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng nặng hơn xuất hiện nhƣ vàng mắt, vàng da, nƣớc tiểu sẫm màu[8].
Viêm gan mạn tính: viêm gan mạn tính do HBV có thời gian ủ bệnh kéo dài. Viêm gan mạn tính tồn tại thƣờng không có triệu chứng, hoặc có thể có những triệu chứng nhƣ mệt mỏi, chán ăn. Đau tức nhẹ vùng hạ sƣờn phải. Khi thăm khám lâm sàng thấy bình thƣờng hoặc thấy gan hơi to.
Tiên lƣợng tốt với những thƣơng tổn tồn tại không tiến triển[17]. Tuy nhiên viêm gan mạn tính do HBV tồn tại có thể tiến triển thành viêm gan mạn tính hoạt động nếu vẫn có sự nhân lên của HBV. Viêm gam mạn tính hoạt động chiếm 30% số nhiễm HBV mạn tính. Thâm nhiễm viêm lan tràn vƣợt qua khoảng cửa vào trong tiểu thùy gan.
Hoại tử kiểu mối gặm quanh tiểu thùy, viêm và hoạt tử kiểu cầu nối kéo dài từ khoảng cửa vào trung tân tiểu thùy, thậm chí sang tiểu thùy khác làm đảo lộn cấu trúc tiểu thùy dẫn đến xơ gan [10]. Viêm gan mạn tính hoạt động với các dấu hiệu lâm sàng nhƣ mệt mỏi, đau hạ sƣờn phải, vàng da và ngứa. Biểu hiện tăng áp lực tĩnh mạch cửa nhƣ cổ trƣớng và xuất huyết tiêu hóa. Có thể có triệu chứng tăng men gan và giảm số lƣợng tế bào máu [39].
Ngƣời bệnh bị viêm gan do HBV mãn tính có nguy cơ phát triển thành ung thƣ gan. Ngƣời bệnh có thể không có triệu chứng hoặc có thể có triệu chứng đau bụng, gan to, giảm cân và sốt. Các xét nghiệm sàng lọc chuẩn đoán hữu ích nhất cho ung thƣ gan là xét nghiệm một protein đƣợc sản xuất bởi các bệnh ung thƣ gọi là alpha-fetoprotein và một hình ảnh siêu âm gan. Hai xét nghiệm kiểm tra này đƣợc sử dụng với bệnh viêm gan do HBV mãn tính, đặc biệt là nếu họ có bị xơ gan hoặc tiểu sử gia đình từng có ngƣời bị ung thƣ gan [15],[16].
Dịch tễ học virus viêm gan B 1. Tình hình nhiễm virus viêm gan B trên thế giới Theo ƣớc tính của WHO năm 2013 có khoảng 2 tỉ ngƣời trên Thế giới đang mang virus VGB và hàng năm khoảng 600.000 ngƣời tử vong do các bệnh có liên quan đến virus VGB nhƣ viêm gan cấp, tối cấp, về lâu dài có thể biến chứng thành xơ gan và ung thƣ gan [60]. Riêng trên toàn Thế giới có khoảng 50 triệu trẻ em bị nhiễm virus VGB, 7-15 triệu sẽ bị chết do hậu quả nhiễm trùng này khi đến tuổi trƣởng thành[30]. Châu Á và châu Phi có tỷ lệ mang virus VGB cao nhất chiếm khoảng 20% dân số.
Châu Âu tỷ lệ ít hơn chiếm khoảng 1 - 5% dân số. WHO đã chia thành 3 vùng lƣu hành dịch bao gồm: - Vùng lƣu hành dịch cao( >7%): Gồm những nƣớc có tỷ lệ mang virus VGB trên 7% dân số nhƣ Đài Loan 14,5%, Trung Quốc 9,5%, Khu vực Đông Nam Á 11,9%, vùng Amazon 8%, Bắc Phi 10%. Ở những vùng này phƣơng thức lây truyền từ mẹ sang con qua nhau thai đóng vai trò quan trọng.