Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương 3: Mô hình và kết quả nghiên cứu. Chương 4: Giải pháp nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 5 Chương 5: Kết luận và một số kiến nghị về chính sách góp phần nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Giới thiệu chương Chương này, bài luận văn sẽ giới thiệu sơ lược về các ngân hàng thương mại cổ phần đang được niêm yết tại Việt Nam, đồng thời sẽ trình bày tổng quát về tỷ suất sinh lợi cũng như các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi tại các ngân hàng thương mại cổ phần đang được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để có thể có một cái nhìn tổng quan hơn, góp phần hiểu rõ hơn về tỷ suất lợi nhuận cũng như các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2008 đến năm 2017. Tổng quan về các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 2. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam Bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ IV vào năm 1986, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước tiến mới. Không còn là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển mình sang nền kinh tế thị trường hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc hình thành thị trường chứng khoán vào năm 2000 được xem là một điều kiện tất yếu cho các nhu cầu huy động vốn trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế. Thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động dưới sự quản lý, giám sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cùng với sự hoạt động của hai trung tâm giao dịch chứng khoán lớn là Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh - HOSE) và Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (nay là Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội - HNX). Ngày 29/6/2006, Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2007. Đây được xem là khuôn khổ pháp lý cao nhất được sử dụng trong các hoạt động trên thị trường chứng khoán.
Sau 4 năm, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010 nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, 7 góp phần tạo ra sự công bằng, lành mạnh và minh bạch. Điều này góp phần không nhỏ đến sự ổn định và phát triển của thị trường chứng khoán. Bắt đầu chỉ với hai mã chứng khoán đầu tiên là SAM – mã chứng khoán thuộc Công ty cổ phần Đầu tư Phát triển Sacom và REE – mã chứng khoán thuộc Công ty cổ phần Cơ điện lạnh, đến năm 2007 đã có 192 công ty với gần 200 đợt phát hành cổ phiếu được đăng ký chào bán với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Đây cũng được xem là thời kỳ hoàng kim của thị trường chứng khoán Việt Nam khi tổng lượng huy động vốn lên đến gần 40.
Tại thời điểm đó, chỉ số VN-Index có khi đạt đỉnh tại mức 1.170 điểm, đây cũng là một cột mốc cao trong lịch sử chứng khoán Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay. Ngay sau đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đón nhiều thông tin bất lợi khi bắt đầu chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. VN-Index cũng đã sụt giảm nghiêm trọng vào thời điểm cuối năm 2008 khi thiết lập đáy tại mức 287 điểm. Tính tới thời điểm tháng 12 năm 2008, có 210 công ty trên tổng số 338 công ty đang niêm yết có giá trị thị trường thấp hơn giá trị sổ sách.
Tổng huy động vốn trên thị trường chứng khoán Việt Nam lúc bấy giờ chỉ đạt hơn 14. Tuy nhiên, cùng với những chính sách thích hợp và sự chuyển mình tích cực của nền kinh tế Việt Nam, thời gian sau đó là sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường chứng khoán. Cho đến năm 2016, quy mô và chất lượng thị trường không ngừng gia tăng. Thị trường chứng khoán Việt Nam với quy mô vốn hóa cổ phiếu niêm yết trên 70 tỷ USD, thu hút 1,6 triệu nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tổng huy động vốn năm 2016 vượt qua mức 2 triệu tỷ đồng. Năm 2017 được xem là năm thành công rực rỡ khi thị trường chứng khoán Việt Nam đạt mức tích cực ngoài dự báo. VN-Index đạt 951,42 điểm, tăng 43% so với cuối năm 2016. Mức vốn hóa của thị trường cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đạt 3.360 nghìn tỷ đồng, tăng 73% so với cuối năm 2016, tương đương 74,6% GDP, vượt chỉ tiêu đặt ra cho năm 2020.
Tổng giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài đạt hơn 31,4 tỷ USD, tăng 81,3% so với cuối năm 2016. * Định hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2020: Cùng với các thách thức và thành tựu đã đạt được, thị trường chứng khoán 8 Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng đến năm 2020 theo quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 với các mục tiêu chính sau: Phát triển thị trường chứng khoán theo chiều sâu và kiên trì công tác tái cấu trúc, duy trì sự ổn định, vững chắc, công khai, minh bạch; Đa dạng hóa các sản phẩm, nghiệp vụ, đảm bảo thị trường hoạt động hiệu quả và trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế; Chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, từng bước tiếp cận với các chuẩn mực chung và thông lệ quốc tế. Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Cùng với những yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam trong và sau giai đoạn thực hiện đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng từ năm 2011 đến năm 2017 và với sự thăng trầm của thị trường chứng khoán Việt Nam, các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết cũng có những khó khăn, thách thức, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế quốc tế. Sự cạnh tranh diễn ra vô cùng gay gắt của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết không chỉ đối với các ngân hàng trong nước mà còn đối với với các ngân hàng nước ngoài.
Ngoài việc hoạch định đường lối hoạt động tuân thủ theo định hướng của thị trường chứng khoán, các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết cũng phải có những chiến lược phù hợp với thực tiễn và với tình hình riêng của mỗi ngân hàng. Tuy niêm yết trên sàn chứng khoán có những điều kiện bắt buộc có thể là trở ngại của một số ngân hàng nhưng niêm yết lại là xu thế tất yếu trong tương lai của các ngân hàng hiện đại. Việc niêm yết sẽ đem lại nguồn vốn huy động dồi dào giúp các ngân hàng thương mại có thể nâng cao khả năng cạnh tranh một cách minh bạch, rõ ràng. Cho đến năm 2017, số lượng ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã gia tăng đến con số 10 ngân hàng, bao gồm: Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quân đội, Ngân hàng TMCP Quốc dân, Ngân hàng 9 TMCP Sài Gòn – Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng.
Tổng quan về tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng thương mại Lợi nhuận chính là mục tiêu cơ bản của các ngân hàng thương mại. Tất cả các hoạt động, dịch vụ cũng như các chiến dịch của ngân hàng đều nhằm mục đích hiện thực hóa mục tiêu lớn này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các ngân hàng thương mại không có những mục tiêu kinh tế - xã hội khác. Một trong những vấn đề quan tâm nhất của ngân hàng đó là hiệu quả tài chính của ngân hàng, mà trong đó khả năng sinh lợi là chỉ tiêu hàng đầu.
Theo Makkar và Singh (2013), hiệu quả tài chính được đo lường bằng cách thiết lập đúng các mối liên quan giữa các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán và các khoản lời/ lỗ của doanh nghiệp. Quá trình tạo ra mối liên quan được gọi là phân tích tài chính bao gồm việc tính toán các chỉ số tài chính, vì vậy nó còn được gọi là phân tích chỉ số. Có rất nhiều chỉ số có thể tính toán được để đánh giá khả năng sinh lợi của ngân hàng. Theo Ongore và Kusa (2013), ROA là một trong những chỉ tiêu chính có thể phản ánh được khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Bên cạnh đó, Ongore và Kusa (2013) cũng cho rằng một doanh nghiệp càng có ROE cao thì càng có khả năng tạo ra vốn nội bộ. Kalluci (2011) cho rằng tốt hơn là nên đánh giá trên cả hai chỉ tiêu ROA và ROE. Về cơ bản, chúng đều đánh giá hiệu quả quản lý tài chính nhưng trên hai chỉ tiêu khác nhau. Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) Là một chỉ số tài chính thể hiện khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Theo Alper và Anbar (2011), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản được tính bằng công thức: 𝑳ợ𝒊 𝒏𝒉𝒖ậ𝒏 𝒓ò𝒏𝒈 ROA = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 Đây chính là chỉ tiêu đo lường khả năng quản lý của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận khi sử dụng tài sản của ngân hàng. Nói cách khác, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản chỉ ra việc các ngân hàng sử dụng các nguồn lực hiệu quả như thế nào để tạo ra được lợi nhuận (Khrawish, 2011). Wen (2010) cho rằng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản càng cao thì việc sử dụng nguồn lực tại ngân hàng càng có hiệu quả. Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng là một trong những chỉ số tài chính thể hiện khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Nó cho biết lợi nhuận của ngân hàng kiếm được trên tổng vốn của chủ sở hữu đầu tư. Đây chính là chỉ số mà các nhà đầu tư trông đợi khi quyết định đầu tư vào một ngân hàng nào đó. Một ngân hàng có tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu cao sẽ có khả năng tạo ra tiền mặt trong nội bộ.