Tổng quan nghiên cứu

Khu di tích quốc gia Làng cổ Đường Lâm tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội được chính thức công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia vào ngày 19/05/2006, trở thành làng cổ đầu tiên của cả nước đạt danh hiệu này. Cùng với làng lụa Vạn Phúc và làng gốm Bát Tràng, Đường Lâm được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quy hoạch vào danh sách 3 làng du lịch quốc tế tiêu biểu của Thủ đô. Lượng du khách đổ về di sản này ghi nhận tốc độ gia tăng ấn tượng: từ hơn 14 vạn lượt khách vào năm 2016 đã cán mốc 17 vạn lượt khách vào năm 2018, tương đương mức tăng trưởng trên 21,4% chỉ sau 2 năm.

Tuy nhiên, sự bùng nổ du lịch đặt ra bài toán hóc búa về quản lý nhà nước: làm thế nào để vừa bảo tồn không gian di sản hàng trăm năm tuổi, vừa tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho người dân phát triển kinh tế dịch vụ. Luận văn thạc sĩ luật kinh tế tập trung làm rõ những khía cạnh lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch từ thực tế Đường Lâm trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc chỉ ra các rào cản, mâu thuẫn giữa quy định hiện hành với đặc thù di sản làng cổ, từ đó kiến nghị hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quyền tự do kinh doanh và lý thuyết can thiệp, điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quyền tự do kinh doanh là quyền hiến định quan trọng, có bước chuyển dịch sâu sắc từ Điều 57 Hiến pháp năm 1992 (công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật) sang Điều 33 Hiến pháp năm 2013 (mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm). Nhà nước điều tiết thị trường thông qua các điều kiện gia nhập ngành được luật hóa tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, với danh mục 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện nhằm bảo vệ quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng.

Luận văn vận dụng và chuẩn hóa 4 nhóm khái niệm cốt lõi theo Luật Du lịch năm 2017: hoạt động kinh doanh du lịch, điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành, điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn. Trong đó, bản chất của kinh doanh du lịch được xác định là ngành thương mại dịch vụ mang tính thời vụ, tổng hợp cao và gắn liền với việc chuyển giao quyền sử dụng tạm thời sản phẩm trải nghiệm mà không chuyển giao quyền sở hữu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp luật chuyên sâu: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp - thống kê và phương pháp luật học so sánh giữa Luật Du lịch năm 2005 với Luật Du lịch năm 2017 cùng các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 168/2017/NĐ-CP và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP.

Về dữ liệu thực nghiệm, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích phi xác suất, thực hiện phỏng vấn sâu trực tiếp vào ngày 01/05/2018 tại xã Đường Lâm với 4 nhóm chủ thể đại diện cho toàn bộ hệ sinh thái du lịch địa phương: đại diện chính quyền cơ sở (Cán bộ Văn phòng Ủy ban nhân dân xã Đường Lâm), đại diện quản lý cộng đồng (Trưởng thôn), chủ thể thực hành văn hóa (Nghệ nhân văn ca cổ truyền) và chủ thể trực tiếp thực thi điều kiện kinh doanh (Hộ kinh doanh dịch vụ du lịch). Việc lựa chọn phương pháp này bảo đảm phản ánh trực diện độ vênh giữa các quy chuẩn pháp lý cứng nhắc với năng lực thực tế của người dân tại 5 thôn nòng cốt gồm Mông Phụ, Đông Sàng, Cam Thịnh, Đoài Giáp và Cam Lâm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa tốc độ tăng trưởng du khách với tỷ lệ chuẩn hóa điều kiện kinh doanh tại cơ sở. Mặc dù lượng khách đến Đường Lâm tăng nhanh từ 140.000 lượt (năm 2016) lên 170.000 lượt (năm 2018), phần lớn các hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống, quà lưu niệm và lưu trú homestay vẫn hoạt động dưới hình thức kinh doanh hộ cá thể tự phát. Ước tính có tới hơn 85% cơ sở chưa đăng ký hoặc chưa thể đáp ứng đầy đủ bộ tiêu chuẩn công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đạt chuẩn theo Điều 56 Luật Du lịch năm 2017.

Thứ hai, rào cản ký quỹ tài chính và yêu cầu bằng cấp chuyên môn gây khó khăn cho việc thành lập doanh nghiệp lữ hành tại chỗ. Quy định mức ký quỹ bắt buộc 100 triệu đồng đối với lữ hành nội địa và 250 triệu đến 500 triệu đồng đối với lữ hành quốc tế theo Nghị định số 168/2017/NĐ-CP là gánh nặng tài chính vượt quá khả năng của các hợp tác xã, tổ hợp tác thanh niên địa phương muốn khai thác tour làng cổ. Ngoài ra, việc quy định người phụ trách kinh doanh lữ hành phải có bằng trung cấp trở lên về chuyên ngành du lịch đã loại bỏ cơ hội đứng tên của nhiều nghệ nhân, người am hiểu văn hóa bản địa.

Thứ ba, sự xung đột pháp lý giữa bảo tồn di tích và tiêu chuẩn kỹ thuật lưu trú du lịch. Luật Du lịch năm 2017 quy định cơ sở lưu trú phải bảo đảm điều kiện tối thiểu về an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường. Tuy nhiên, tại Đường Lâm, các ngôi nhà cổ bằng đá ong và gỗ truyền thống có tuổi đời 200 đến 400 năm (như quần thể kiến trúc quanh đình Mông Phụ xây dựng từ năm 1684) chịu sự quản lý nghiêm ngặt của Luật Di sản văn hóa. Việc cải tạo, xây dựng thêm lối thoát hiểm, bổ sung bể nước chữa cháy hay lắp đặt nhà vệ sinh khép kín hiện đại đều bị cấm vì nguy cơ phá vỡ kiến trúc gốc, khiến các hộ kinh doanh homestay không thể hoàn thiện hồ sơ xin cấp phép.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tại Đường Lâm phản ánh điểm nghẽn chung của mô hình du lịch di sản Việt Nam khi các quy định pháp luật được xây dựng trên tư duy đô thị hóa, áp dụng chung một khuôn mẫu cho cả khách sạn hiện đại lẫn nhà cổ vùng nông thôn. Khi đối chiếu với bức tranh toàn ngành du lịch Việt Nam – nơi đóng góp GDP tăng từ 3,26% năm 2000 lên 6% năm 2014 với tổng thu đạt 230 nghìn tỷ đồng – sự thiếu vắng các cơ chế đặc thù cho các điểm du lịch nông thôn đang kìm hãm nguồn thu từ xuất khẩu tại chỗ.

Để làm rõ các mâu thuẫn này, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua hai công cụ trực quan:

  • Bảng đối chiếu các điều kiện kinh doanh lữ hành và lưu trú giữa Luật Du lịch năm 2005 và Luật Du lịch năm 2017, chỉ rõ sự chuyển biến từ chế độ tiền kiểm nặng nề sang kết hợp hậu kiểm nhưng vẫn còn vướng mắc ở các tiêu chuẩn kỹ thuật chi tiết.
  • Biểu đồ cột thể hiện tương quan giữa mức tăng trưởng lượng khách du lịch giai đoạn 2010 - 2018 (tăng bình quân hai con số mỗi năm trên toàn quốc) với tỷ lệ cơ sở lưu trú đạt chuẩn xếp hạng sao (cả nước có 18.600 cơ sở lưu trú với 355.000 buồng phòng nhưng phân bổ chủ yếu ở các đô thị lớn, để lại khoảng trống pháp lý tại các khu bảo tồn làng cổ).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, sửa đổi và bổ sung khung quy định riêng về điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch dạng nhà có phòng cho khách thuê (homestay) tại khu vực di tích quốc gia. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần chủ trì ban hành Thông tư hướng dẫn áp dụng cơ chế đặc thù, giảm 40% đến 50% các tiêu chuẩn vật chất không tương thích với nhà cổ trước năm 2022, cho phép thay thế vật liệu hiện đại bằng giải pháp an toàn tương đương phù hợp không gian di sản.

Thứ hai, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm chi phí gia nhập thị trường cho các tổ chức kinh tế địa phương. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và các cơ quan tài chính cần thiết lập quỹ tín dụng vi mô, hỗ trợ 100% kinh phí thẩm định cấp biển hiệu đạt chuẩn phục vụ khách du lịch cho các hộ gia đình sản xuất sản phẩm truyền thống (gà Mía, tương nếp, chè lam, kẹo lạc).

Thứ ba, nâng cao năng lực thực thi công vụ và hỗ trợ pháp lý thường xuyên từ chính quyền cơ sở. Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây và Ủy ban nhân dân xã Đường Lâm cần tổ chức định kỳ 4 đợt tập huấn chuyên môn mỗi năm, hướng dẫn trực tiếp cho hơn 200 hộ kinh doanh cách thức lập hồ sơ phòng cháy chữa cháy, cam kết vệ sinh an toàn thực phẩm và thực hiện nghĩa vụ thông báo lưu trú qua phần mềm điện tử.

Thứ tư, xây dựng mô hình liên kết hợp tác xã du lịch cộng đồng gắn với bảo hộ nhãn hiệu tập thể trước năm 2023. Mô hình này đóng vai trò pháp nhân trung gian đáp ứng điều kiện ký quỹ lữ hành nội địa 100 triệu đồng, đại diện cho người dân ký kết hợp đồng tour trọn gói với các công ty du lịch quốc tế, bảo đảm 100% người dân tham gia chuỗi dịch vụ được chia sẻ lợi ích công bằng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch thành phố Hà Nội có thêm luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn Luật Du lịch, hạn chế các quy định chồng chéo với Luật Di sản văn hóa.
  • Ủy ban nhân dân các cấp và Ban quản lý di tích: Cán bộ quản lý văn hóa - kinh tế tại thị xã Sơn Tây và các địa phương có di tích tương đồng (như Hội An, Bát Tràng, Phước Tích) có thể sử dụng giải pháp trong luận văn để xây dựng quy chế quản lý kinh doanh dịch vụ phù hợp điều kiện thực tế.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giới học thuật ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính và Du lịch học có thể khai thác hệ thống dữ liệu, mô hình phân tích so sánh và phương pháp tiếp cận thực chứng làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các doanh nghiệp lữ hành, hộ kinh doanh dịch vụ và nhà đầu tư du lịch: Các đơn vị cung ứng dịch vụ nắm vững quy trình pháp lý xin cấp giấy phép lữ hành, công nhận hạng cơ sở lưu trú và nhận diện rõ các rủi ro pháp lý để tối ưu hóa mô hình vận hành homestay di sản.

Câu hỏi thường gặp

Theo quy định của pháp luật hiện hành, mức ký quỹ đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành là bao nhiêu? Theo Điều 14 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP, mức ký quỹ kinh doanh lữ hành nội địa là 100 triệu đồng. Đối với lữ hành quốc tế, mức ký quỹ phục vụ khách quốc tế đến Việt Nam là 250 triệu đồng; phục vụ khách ra nước ngoài hoặc phục vụ cả hai chiều là 500 triệu đồng tại các ngân hàng thương mại.

Tại sao các hộ kinh doanh homestay tại Làng cổ Đường Lâm gặp khó khăn khi đáp ứng điều kiện lưu trú? Nguyên nhân chính do xung đột giữa Luật Di sản văn hóa và Luật Du lịch năm 2017. Các ngôi nhà cổ đá ong hàng trăm năm tuổi không được phép thay đổi kết cấu để lắp đặt lối thoát nạn, buồng vệ sinh khép kín hay trang thiết bị hiện đại theo quy chuẩn kỹ thuật phòng cháy chữa cháy và vệ sinh thông thường.

Thủ tục công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch diễn ra trong bao lâu? Theo Điều 56 Luật Du lịch năm 2017, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ 01 bộ hồ sơ hợp lệ, cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định và ra quyết định công nhận. Quyết định công nhận tiêu chuẩn này có thời hạn hiệu lực là 03 năm.

Quyền tự do kinh doanh du lịch được bảo đảm như thế nào trong hệ thống pháp luật Việt Nam? Quyền này được ghi nhận tại Điều 33 Hiến pháp năm 2013 và Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014, cho phép tổ chức, cá nhân tự do kinh doanh ngành nghề luật không cấm. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù, kinh doanh du lịch phải tuân thủ các điều kiện cần thiết theo quy định tại Luật Đầu tư và Luật Du lịch để bảo đảm an ninh, trật tự và môi trường.

Thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa và quốc tế được phân định ra sao? Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh (Sở Du lịch hoặc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) có thẩm quyền thẩm định và cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa trong 10 ngày. Trong khi đó, Tổng cục Du lịch là cơ quan có thẩm quyền thẩm định và cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về điều kiện kinh doanh du lịch, khẳng định sự cần thiết khách quan của việc quản lý nhà nước kết hợp bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp năm 2013.
  • Phản ánh trung thực thực trạng áp dụng pháp luật tại Làng cổ Đường Lâm, chỉ rõ mâu thuẫn cốt lõi giữa quy chuẩn kỹ thuật dịch vụ du lịch hiện đại và yêu cầu bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp liên ngành đồng bộ, đề xuất sửa đổi các tiêu chuẩn tại Nghị định số 168/2017/NĐ-CP theo hướng linh hoạt, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển hợp pháp.
  • Đưa ra lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn tiếp theo, nhấn mạnh vai trò của mô hình hợp tác xã du lịch và liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp - làng nghề truyền thống.
  • Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến việc phát triển du lịch di sản bền vững có thể tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng các khuyến nghị vào thực tiễn địa phương.