Mở đầu cho cuộc diễn Chèo ở sân đình ngày xưa, bộ gõ gồm trống cái, trống đế, thanh la, não bạt, mõ… trong dàn nhạc Chèo vang lên những âm thanh với những tiết tấu dồn dập, thôi thúc mời bà con, cô bác, mọi người trong làng xã tới xem. Cùng với bộ gõ, dàn nhạc Chèo sân đình còn có nhị, hồ, sáo trúc để đệm cho hát, cho múa. Vào những đêm trong trời, tiếng trống (của đủ loại trống chầu, trống ban, trống đế…), tiếng mã la, sênh, mõ nổi lên dồn dập, hòa với tiếng hát vỡ nước khi lảnh lót, khi trầm trầm, có đệm theo tiếng hồ thủ thỉ, tiếng nhị ấm cúng, tiếng sáo véo von, nghe vừa sốt ruột vừa hấp dẫn, gây một không khí náo nức trong nhân dân [36; 5]. Đoạn trích trên trong tài liệu Âm nhạc trong nghệ thuật Chèo của tác giả Trần Việt Ngữ, do Viện nghiên cứu sân khấu in roneo năm 1970, đã cho chúng ta thấy, các nhạc cụ và tính chất của các nhạc cụ trong dàn nhạc Chèo truyền thống diễn ở sân đình ngày xưa.
Sáo trúc là nhạc cụ không thể thiếu trong dàn nhạc Chèo truyền thống. Đặc điểm cơ bản quan trọng nhất của dàn nhạc Chèo truyền thống là đệm cho hát. Hát Chèo là lối hát có những đặc điểm chung của hát dân ca người Việt vùng châu thổ sông Hồng, đó là kỹ năng “tròn vành, rõ chữ”. Để hát tròn vành, rõ chữ người nghệ nhân hát Chèo phải nắm vững cách phát âm, nhả chữ theo dấu giọng thanh điệu tiếng Việt.
Hầu hết các nhạc cụ 16 trong dàn nhạc Chèo thường không đi đúng như giai điệu hát mà chỉ đệm họa theo (phỏng theo) giai điệu của người hát, người ta gọi là đệm tòng. Đây là nét đặc trưng của dàn nhạc Chèo truyền thống. Bộ ba hồ, nhị, sáo trúc thường hòa tấu với nhau theo một kiểu riêng của từng loại nhạc cụ. Trên cơ sở âm điệu của làn điệu, bộ ba hồ, nhị, sáo trúc thể hiện những câu xuyên tâm, lưu không nối những câu hát, trổ hát.
Các nghệ nhân hồ, nhị dùng những kỹ thuật, kỹ xảo để thể hiện tính chất của làn điệu như: láy nhanh, gọi là gân bong để diễn tả tính chất vui tươi; láy chậm cùng với nhấn dây gọi là gân chìm để diễn tả tính chất u buồn, ai oán. Để khắc họa tính cách một số nhân vật, các nhạc cụ trong dàn nhạc còn thay nhau sử dụng kỹ xảo để khắc họa như: đệm cho vai chín (chính diện) thì nhị, hồ dùng cung (vĩ) kéo trên dây cho mượt mà, êm tiếng, đoan trang; đệm cho vai lệch (phản diện) thì dùng cung cứa trên dây để khắc họa tính cách ngoa ngoắt, đanh đá, xảo trá; Sáo trúc thường vang lên bay bổng, véo von, ngọt ngào khi diễn tả cảnh đẹp của đồng quê, sông nước hay tâm trạng mơ mộng của nhân vật. Âm nhạc Chèo rất đa dạng, độc đáo và đặc sắc. Trong nền âm nhạc cổ truyền nước ta, âm nhạc Chèo diễn tả phong phú về các trạng thái tư tưởng, tình cảm nhân vật người nông dân vùng châu thổ Bắc Bộ với đủ vẻ vui, buồn, hờn, giận.
Âm nhạc Chèo có giá trị trong nền âm nhạc dân tộc. Thành phần dàn nhạc Chèo có cây sáo trúc, là nội dung quan trọng trong đề tài, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề liên quan ở phần sau. - Về thang âm và điệu trong âm nhạc Chèo Theo GS. Trần Văn Khê: Âm giai: gần với gam (game).
Những chữ nhạc sắp theo thứ tự từ thấp đến cao như những nấc của một cây thang mà chữ giai có nghĩa là cây thang. Toàn thể thanh sắp theo thứ tự từ thấp lên 17 cao là một giai. Âm giai Việt Nam lấy theo âm giai của âm nhạc Trung Hoa nên chỉ có năm âm: hò, xự, xang, xê, cống, líu. Giọng liêu và ú chỉ là giọng hò và xự mà cao hơn một bát độ (octave) [58; 2345].TS Nguyễn Thụy Loan trong sách Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Giáo trình Cao đẳng Sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, trang 51, viết: “ở đầu thế kỷ XIII, dưới thời nhà Nguyên thang âm gốc Mông cổ (vốn chỉ gồm bày âm trong phạm vi một quãng 8) Hò Xự Y Xang Xê Cống Phan líu Ú ứng với Pha Xon La Xib Đô Rê Mi Pha1 Xon1” [29 ; 51].
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm thang âm: Hệ thống cao độ của các bậc âm trong một bài hát, bản nhạc… được sắp xếp từ thấp đến cao và từ cao xuống thấp trong phạm vi một quãng tám. Nghệ thuật âm nhạc có nhiều loại thang âm. Tùy theo thẩm mỹ của từng dân tộc, các bài bản, làn điệu dân ca hay các tác phẩm âm nhạc chuyên nghiệp, người ta sử dụng các loại thang âm khác nhau. Trong dân ca của các dân tộc ở nước ta, có giai điệu sử dụng thang âm từ âm thấp đến âm cao, nhưng cũng có giai điệu sử dụng thang âm từ các âm cao xuống các âm thấp (dân ca Ê Đê).
Âm nhạc Chèo sử dụng chủ yếu là thang 5 âm không bán âm (bán cung). Mặc dù trong một số làn điệu, bài hát Chèo có 6 âm, 7 âm song không có các quãng bán âm, đây là hiện tượng có 2 loại điệu (có khi có 3 loại điệu) 5 âm xen kẽ nhau trong cấu tạo giai điệu. Về điệu (thường hay gọi là điệu thức), trong âm nhạc Chèo là sự tương quan giữa các bậc âm trong một thang 5 âm theo một hệ thống. Hệ thống các bậc âm trong thang 5 âm này được nối tiếp với nhau bởi những quãng một cung (tương ứng với quãng 2 trưởng) và những quãng một cung rưỡi (tương ứng với quãng 3 thứ).
Tùy theo các làn điệu, bài hát Chèo… các âm có mối quan hệ khác nhau, tạo nên các cảm giác về tính chất, màu sắc của các làn điệu, bài hát, bản nhạc này khác nhau. 18 Tên các điệu trong âm nhạc Chèo được gọi là Huỳnh, Nao, Pha, Bắc, Nam (tương ứng như các điệu Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ của âm nhạc Trung Hoa). Mối tương quan của các bậc âm trong các điệu này khác nhau, tạo nên tính chất của chúng khác nhau. Trong âm nhạc Chèo có một số điệu như sau: Điệu Huỳnh tương ứng như điệu Cung, có trong giai điệu các bài Chức cẩm hồi văn, Bắt đò… Ví dụ 1.
CHỨC CẨM HỒI VĂN Đoạn trích bài Chức cẩm hồi văn là điệu Huỳnh (Cung) giọng Son: G - A - H - D - E - (G) Điệu Nao tương ứng như điệu Thương, có trong giai điệu các bài Hề mồi cơm canh, Cách cú… Ví dụ 2. CÁCH CÚ 19 Đoạn trích bài Cách cú ở ví dụ trên là điệu Nao (Thương) giọng son: G - A - C - D - F - (G) Trong giai điệu của những bài Đường trường bắn thước, Hề mồi thắt lưng xanh, Hề mồi cơm canh… có điệu Bắc, tương ứng như điệu Chủy. HỀ MỒI THÁT LƯNG XANH Đoạn trich bài Hề mồi thắt lưng xanh ở ví dụ trên là điệu Bắc (Chủy) giọng rê: D - E - G - A - H - (D) Bài Lới lơ, bài Đường trường phải chiều… là điệu Nam, tương ứng như điệu Vũ. LỚI LƠ 20 Ví dụ trên là điệu Nam, giọng la, tương ứng như điệu La Vũ: A - C - D - E - G - (A) - Làn điệu (điệu hát) và bài hát Chèo Làn điệu là một thuật ngữ thường được sử dụng trong âm nhạc Chèo.
Theo Bùi Đức Hạnh trong tài liệu Ca hát trong Chèo, viết:… "sự hình thành các làn điệu chèo là từ dân ca phát triển lên, mới đầu chỉ là những hình thức ngâm vịnh, hát đố, hát ghẹo" [12; 18]. Cũng trong tài liệu này, ở trang 24, 25 tác giả nêu về tên gọi của các làn biểu hiện tính chất âm nhạc và lối diễn xướng của làn điệu. Tác giả Trần Việt Ngữ trong cuốn Âm nhạc trong nghệ thuật chèo, viết: “Những làn trong cùng một cụm thường mang nét nhạc cơ bản có âm điệu giống nhau trong một trình độ nhất định, có khi ngay cả thể thơ và tiếng đệm cũng giống nhau (như tiếng đệm “dẫu mà’, “này” trong cụm hắt sắp). Người mới nghe khó phân biệt làn nọ với làn kia [36; 11].
Trong cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), do Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội, ghi: Làn điệu 1. Thuật ngữ âm nhạc dân gian chỉ phần âm hưởng của giai điệu (hay âm điệu) trong các thể loại dân ca, nhằm phân biệt với phần thơ ca dùng làm lời. Những khúc nhạc có sẵn, được dùng trong các kịch hát dân tộc như tuồng, chèo, cải lương. Những LĐ này được sắp xếp theo tính cách âm nhạc thành từng nhóm như sắp, sử (chèo), nam, khách (tuồng).
Các tác giả văn học phải nắm được các LĐ này để viết lời cho phù hợp với nhạc và sắp xếp các thứ tự sử dụng các LĐ cho phù hợp với tính cách, tuyến phát triển của mỗi nhân vật và giữa các nhân vật với nhau. Cấu trúc âm nhạc có một giai điệu cơ bản mang tính chất lòng bản (x. Lòng bản), cho phép mọi sự biến đổi, xê dịch các yếu tố âm nhạc cho phù hợp với thanh điệu và ngôn điệu cụ thể của từng lời ca. Đầu và cuối mỗi trổ của LĐ có thể có bộ phận nhạc gọi là nhạc đáp.
Xướng gọi; Xô đáp; Láy đầu; Láy đuôi [17; 635]. Theo ý kiến của chúng tôi, trong âm nhạc Chèo người ta thường sử dụng thuật ngữ làn điệu là để chỉ một hệ thống bài hát Chèo có chung những tính chất cơ bản về thể thơ, tiếng đệm và có âm điệu, lưu không, xuyên tâm, ngân đuôi… tương đối giống nhau. Ví dụ trong làn điệu Hát sắp thường dung thể thơ lục bát, tiếng đệm “dẫu mà’; “này”… Còn về thuật ngữ bài bản, bài hát trong âm nhạc cổ truyền, tác giả Nguyễn Thụy Loan (2006), trong sách Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Giáo trình Cao đẳng Sư phạm, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, viết: Bài là “Thuật ngữ của người Việt để chỉ loại cấu trúc giai điệu tương đối ổn định, không có sự thay đổi thêm bớt, biến hóa trong các lần trình diễn” [29; 247]. Qua nghiên cứu các bài hát Chèo, trong các làn điệu hay điệu hát Chèo, chúng tôi quan niệm bài hát Chèo (bài Chèo) là lối gọi một bài hát có cấu trúc giai điệu riêng biệt.
Ví dụ: bài Cách cú, bài Con gà rừng, bài Ba mươi tết… - Cấu trúc trong âm nhạc Chèo. Cấu trúc nhỏ nhất trong âm nhạc Chèo là trổ hát.