Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Về dạy học Toán theo hướng phát triển năng lực 1. Một số công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực trên thế giới Vào năm 1982, William E.
Blank xuất bản cuốn “Sổ tay phát triển chương trình đào tạo dựa trên NL thực hiện”. Tác giả đã nghiên cứu các VĐ cơ bản của giáo dục và đào tạo dựa trên NL, trình bày về “phân tích nghề, phân tích nhu cầu người học, xây dựng hồ sơ NL người học, phát triển công cụ đánh giá sự hiểu biết và sự thực hiện, phát triển các nhóm HT, cải tiến và quản lý chương trình đào tạo” [128]. Trong cuốn sách “Phương pháp sư phạm tích hợp, hay cách phát triển năng lực ở nhà trường” ([129]), Xavier Rogiers (1996) đã chỉ ra con đường phát triển NL cho người học thông qua giáo dục tích hợp. Trong [112], Peter Morgan (1998) nghiên cứu về một số chiến lược phát triển NL.
Joe Bolger (2000, [105]) đã nghiên cứu về sự cần thiết, nội dung và cách thức phát triển NL. Tremblay Denyse (2002, [124]) đã xây dựng phương pháp tiếp cận dựa trên NL nhằm giúp người học tự chủ trong học tập và vận dụng kiến thức suốt đời. Trong giáo dục phổ thông, vào những năm 2005 - 2010, ở Canada đã có những công trình nghiên cứu về đánh giá NL của HS tiểu học và THCS ([115], [116]). Vào năm 2009, Samuel Otoo, Natalia Agapitova và Joy Behrens ([114]) xây dựng khung phát triển NL trong học tập và cách thức tiếp cận giáo dục phát triển NL.
Trong chương trình phát triển Liên hiệp quốc, vào năm 2010, trong [125] đã nghiên cứu về VĐ đo lường NL. Nodine (2016) trong [123] đã chỉ ra phát triển giáo dục dựa trên NL cần được triển khai trong giáo dục đại học ở Mỹ; nói riêng là trong đào tạo giáo viên, 9 trong đào tạo nghề ở các trường đại học và cao đẳng và đưa ra cách thiết kế PPDH nhằm tiếp cận phát triển NL. Đặc biệt là Dorothy M. Rogers (2014, [96]) đã trực tiếp nghiên cứu về vấn đề phát triển NL điều dưỡng ở trình độ ban đầu.
Trong phạm vi môn Toán, có thể điểm qua một số công trình như sau: V. Với tác phẩm “Toán học phổ thông và những xu hướng phát triển” tác giả Maxlôva G. Tomas Hojgaard Jensen (2007, [122]) đã tiếp cận VĐ giáo dục toán học dựa trên đánh giá NL mô hình hóa của người học khi ứng dụng toán học vào giải quyết những VĐ thực tiễn. Các tác giả Werner Blum, Rita Borromeo Ferri (2009, [127]) đã đề cập đến NL vận dụng toán học vào thực tiễn từ khía cạnh mô hình hóa toán học.
Tadesse Walelign (2014, [120]) tiến hành nghiên cứu VĐ đánh giá NL Toán học của người học khi học và vận dụng toán học. Như vậy, có thể thấy DH tiếp cận phát triển NL đã sớm được các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm nghiên cứu và trở thành xu thế tất yếu trong giáo dục ở thế kỷ XXI. Đối với giáo dục toán học, xu hướng này phù hợp với nhu cầu gắn học Toán với NL vận dụng vào giải quyết những VĐ thực tiễn cho người học. Một số công trình nghiên cứu về dạy học theo hướng phát triển năng lực ở Việt Nam Đối với nghề sư phạm, có những công trình nghiên cứu về NL như: Đinh Quang Báo và các tác giả (2016) trong [5], khi xây dựng chương trình đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông đã nhấn mạnh đến NL giáo dục và DH của giáo viên.
Nguyễn Ngọc Hùng (2004) [35] nghiên cứu về NL thực hiện dành cho SV sư phạm kỹ thuật. Nguyễn Quang Việt (2006) [88] tiếp cận vấn đề đánh giá NL thực hiện cho SV. 10 Nguyễn Trường Giang (2010) nghiên cứu phát triển kỹ năng DH thực hành đối với SV ĐHSP kỹ thuật theo hướng module hóa nhằm đáp ứng chuẩn đầu ra [21]. Trịnh Xuân Thu (2012) [66] GQVĐ “rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV Cao đẳng sư phạm ngành Công nghệ theo NL thực hiện”.
Đối với giáo dục nghề nghiệp thuộc khối kinh tế, kỹ thuật có những công trình: Lê Bá Phương (2016, [58]) nghiên cứu VĐ phát triển NL NN cho SV kinh tế, kỹ thuật ở Trường Đại học Công nghiệp. Nguyễn Đức Trí (2000) [72] và Cao Danh Chính (2012) [12] đã nghiên cứu mô hình phát triển NL cho SV ở các trường thuộc khối kỹ thuật. Hoàng Ngọc Trí (2005) [73] nghiên cứu về phát triển NL nghề xây dựng trong đào tạo công nhân. Đối với giáo dục nghề nghiệp thuộc một số ngành nghề khác có những công trình: Trần Xuân Phú (2012) nghiên cứu DH theo hướng phát triển NL cho học viên trường sỹ quan chính trị [56]; Tống Diệp Thanh (2017) nghiên cứu vận dụng PPDH tích cực dựa trên NL thực hiện đối với dịch vụ nhà hàng [64];.
Có thể thấy, trong các nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực kể trên, các tác giả đã tiếp cận VĐ phát triển NL trong giáo dục thông qua nêu quan điểm, đề xuất mô hình, xác định thành phần, xây dựng các tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá,. Trong phạm vi môn Toán, có thể điểm qua một số công trình như sau: Trong giáo trình “PPDH môn Toán” ([42]), Nguyễn Bá Kim đã tiếp cận VĐ phát triển NL HS từ góc độ DH toán trong HĐ và bằng HĐ, gắn với hoạt động thực hành vận dụng toán học vào thực tiễn của HS. Tư tưởng này được triển khai cụ thể hóa trong [43] khi định hướng giải pháp dạy học Toán nhằm phát triển NL HS. Tiếp cận từ yêu cầu đổi mới mục tiêu môn Toán, Trần Kiều (2014, [41]) đã định hướng những NL cần hình thành và phát triển cho người học qua môn Toán ở trường phổ thông Việt Nam gồm 6 thành phần là: NL tư duy; NL GQVĐ; NL mô hình hóa Toán học; NL giao tiếp; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán; NL học tập độc lập và hợp tác.
Theo hướng tiếp cận NL nghề dạy Toán, tác giả Nguyễn Chiến Thắng (2012) [65] và Bùi Văn Nghị, Hoàng Ngọc Anh, Đỗ Thị Trinh, Nguyễn Tiến Trung (2016, [52]) đã nghiên cứu về VĐ phát triển NL DH Toán cho SV sư phạm. 11 Nguyễn Anh Tuấn (2018, [92]) đã tiếp cận từ vấn đề làm rõ cơ sở khoa học và một số biện pháp thực hiện giáo dục toán học gắn với thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam đã thể hiện một cách tập trung ở chương trình giáo dục phổ thông môn toán năm 2018 ([6]), khi xác định NL toán học đối với HS bao gồm 5 NL thành phần là: NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hóa toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Đồng thời được các tác giả Đỗ Đức Thái, Đỗ Tiến Đạt, Phạm Xuân Chung, Nguyễn Sơn Hà, Phạm Sỹ Nam, Vũ Đình Phượng, Nguyễn Thị Kim Sơn, Vũ Phương Thúy, Trần Quang Vinh triển khai cụ thể những VĐ liên quan đến DH Toán phát triển NL HS ([63]) Trong lĩnh vực giáo dục toán học, các kết quả nghiên cứu cho thấy: Phát triển NL vận dụng Toán học nhằm tiếp cận NL NN cho người học là định hướng chiến lược trong cả giáo dục phổ thông và giáo dục đại học.
Riêng về DH XS-TK với đối tượng học nghề theo hướng tiếp cận NL NN, chúng tôi sẽ trình bày ở một mục riêng sau đây. Tình hình nghiên cứu dạy học Xác suất - Thống kê gắn với nghề nghiệp 1. Trên thế giới Về giảng dạy XS-TK nói chung, có thể điểm qua một số kết quả như sau: Tại Hoa Kỳ, các nhà TK học đã có một số bài viết khuyến nghị đối với những người mới tham gia giảng dạy TK hoặc muốn tìm hiểu thêm về nó. Trong “Giảng dạy TK” của George Cobb (1992) đã tóm tắt và giải thích về các khuyến nghị của một tập thể nhóm nghiên cứu ASA/MAA là: 1) Dạy các tư duy TK; 2) Cung cấp các dữ liệu và khái niệm khác để ít lý thuyết hơn và ít công thức hơn; 3) Tăng cường HT tích cực của người học [95].
Ở đây có thể thấy tư tưởng gắn học TK với vận dụng thực tế. Tham khảo trong [121], có thể kể đến một số bài viết liên quan đến VĐ DH XS-TK: Trong bài viết “Sử dụng đánh giá để cải thiện việc học của HS trong DH TK” (1994), tác giả Joan Garfield đã tiến hành một nghiên cứu khảo sát kỹ lưỡng về các kỹ thuật đánh giá số liệu TK,. Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về DH XS-TK từ những khía cạnh và mục đích nghiên cứu khác nhau, nhưng đều tập trung vào việc đưa ra 12 những lý luận và cách thức giảng dạy XS-TK nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng đối với người học. Về DH XS-TK gắn với thực tiễn đào tạo nghề: Joan Garfield (1995) có những bài viết xung quanh chủ đề “Làm thế nào SV học TK”, trong đó thảo luận, nghiên cứu cách thức để SV học TK và một số phát hiện có ý nghĩa cho các GV, tác giả nhấn mạnh về gắn nội dung TK được học với ứng dụng trong NN được đào tạo.
Ở bài viết “Rút kinh nghiệm trong các kỹ thuật đánh giá, xác nhận hiệu quả thực tiễn của một khoá giảng dạy TK” của Beth Chance (1997) đã đưa ra lời khuyên cho việc thực hiện một loạt các thực tiễn đánh giá tùy thuộc vào mục đích HT và các mục tiêu khác. Ở bài báo “TK, Toán học và Giảng dạy” của George Cobb và David Moore (1997) đã nêu bật sự khác biệt giữa các môn học của toán học và TK, cho thấy ý nghĩa của việc giảng dạy TK nằm ở chỗ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thể hiện sự gắn bó với thực tiễn. David Moore, trong “Nội dung mới và PP sư phạm mới khi giảng dạy TK” (1997), đã tóm tắt các xu hướng gần đây trong việc giảng dạy về sự hiểu biết số liệu TK, nó được cấu thành từ 3 yếu tố nội dung, sư phạm và công nghệ. Điều đó thể hiện rằng: nội dung (thuần túy toán học) và yêu cầu sư phạm cần gắn bó với công nghệ - “môi trường” ứng dụng của TK.
Viết về yêu cầu gắn DH TK với thực tiễn, trong tác phẩm “Teaching Statistics: Resources for Undergraduate Instructors”, Thomas Moore (2000) nghiên cứu về DH TK tập trung vào việc sử dụng các dự án và nghiên cứu trường hợp, trong đó nhấn mạnh rằng SV phải tự xây dựng kiến thức về TK thông qua trải nghiệm thực tế với dữ liệu thực và mô phỏng các sự kiện.