Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM 1. Lý luận về dạy học trải nghiệm và dạy học toán qua trải nghiệm 1. Một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản Trải nghiệm “Trải nghiệm” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hằng ngày nên có nhiều cách hiểu khác nhau về trải nghiệm.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Trải” có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng, còn “nghiệm” có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng (Hoàng Phê, 1992). Vậy “trải nghiệm” có nghĩa là quá trình chủ thể tham gia hoạt động trực tiếp, từ đó rút ra được kinh nghiệm cho bản thân. Ngoài ra, theo nghĩa chung nhất của từ điển Bách khoa Việt Nam diễn giải như sau: Trải nghiệm là bất kì một trạng thái nào trong đời sống tâm lí chứa đựng cảm xúc của chủ thể thông qua việc cảm nhận, trải qua, đọng lại cùng với tri thức, ý thức,. Ở khía cạnh tâm lí học, nó là những tín hiệu nội tại của chủ thể.
Thông qua đó, chủ thể tiếp nhận các sự việc, sự kiện và đưa ra phản hồi mang màu sắc cá nhân từ ý tưởng đến hành vi (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2005). Từ những định nghĩa trên và trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cho rằng: Trải nghiệm là quá trình chủ thể tiếp xúc trực tiếp, chiêm nghiệm, tương tác với sự vật hiện tượng một cách tích cực dựa trên kinh nghiệm, vốn sống của mình để tiếp nhận tri thức. Dạy học trải nghiệm Theo hiệp hội “Giáo dục trải nghiệm” quốc tế (1997) định nghĩa thì “dạy học trải nghiệm” là một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia các trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kĩ năng, định hình các giá trị sống và phát triển các năng lực bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội. Như vậy, khái niệm “dạy học trải nghiệm” là một Luan van 6 phạm trù rộng, bao gồm hệ thống các phương pháp, hình thức dạy học đảm bảo các đặc điểm: người học tham gia trực tiếp vào hoạt động thực tế hoặc mô phỏng phải có sự chiêm nghiệm, dựa trên cảm nhận, cảm xúc thực tế của người học.
Tác giả Đinh Thị Kim Thoa đã xác định: Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục [.] tạo cơ hội cho HS: huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống gia đình, nhà trường và xã hội; tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động; trải nghiệm, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý tưởng hoạt động; thể hiện và tự khẳng định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm và của các bạn. dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được tuyên bố trong chương trình tổng thể và các năng lực đặc thù của Hoạt động trải nghiệm (Đinh Thị Kim Thoa, 2017). Ngoài ra, theo Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 định nghĩa: Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp là hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học để thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với lứa tuổi; thông qua đó, chuyển hoá những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới, hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai. Từ những định nghĩa trên, trong phạm vi đề tài này, chúng tôi định nghĩa Dạy học Toán ở tiểu học qua trải nghiệm thực tế tại địa phương là hoạt Luan van 7 động giáo dục mà GV là người thiết kế, tổ chức và hướng dẫn HS tham gia, thực hiện các hoạt động trải nghiệm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh,… của địa phương có gắn với các yếu tố toán ở tiểu học.
HS sẽ trực tiếp khám phá, tìm tòi, liên hệ, vận dụng những kiến thức toán học đã học, đồng thời tích hợp với nội dung các môn học và hoạt động giáo dục khác áp dụng vào các hoạt động trải nghiệm của thực tế cuộc sống. Từ đó, HS biết cách giải quyết một số vấn đề toán học đơn giản thường gặp; ứng xử phù hợp với thực tế cuộc sống;. góp phần hình thành năng lực toán học và những phẩm chất cần thiết. Những nghiên cứu về dạy học trải nghiệm Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng về học tập dựa vào trải nghiệm.
Theo dòng thời gian, chúng ta phải nói đến những nhà giáo dục học, tâm lí học như Lev Vygotsky, John Dewey, Kurt Lewwin, Jean Piaget, David Kolb,. Năm 1930, Lev Vygotsky - nhà tâm lí học người Nga (1896 - 1934) đã có nghiên cứu về “vùng phát triển gần” (the Zone of Proximal Development). Theo đó, “vùng phát triển gần” được hiểu là khu vực kinh nghiệm của cá nhân nằm giữa trình độ phát triển tiềm tàng và trình độ phát triển hiện tại. Lí thuyết này được đúc kết từ việc nghiên cứu trẻ em sẽ giải quyết như thế nào với những vấn đề vượt mức độ phát triển của chúng.
Nội dung của “vùng phát triển gần” chính là những giá trị về kinh nghiệm sẵn có ở mỗi cá nhân. Khi chủ thể tiếp xúc trực tiếp với môi trường qua học tập, làm việc,. những tiềm năng của cá nhân được huy động tối đa từ vốn kinh nghiệm sẵn có để chủ động thực hiện nhiệm vụ cụ thể, làm cải thiện vốn kinh nghiệm này và phát triển ở mức cao hơn mà đặc trưng là năng lực giải quyết vấn đề độc lập. Theo một chu kỳ, trình độ này lại trở thành kinh nghiệm sẵn có, làm nền tảng trong hiện tại, qua thử thách, điều chỉnh rồi lại làm giàu kinh nghiệm đó ở mức phát Luan van 8 triển cao hơn.
Cứ như thế, vốn kinh nghiệm cá nhân lại phát triển hơn ở chu kỳ sau đó. John Dewey (1859-1952), một trong những nhà tư tưởng lớn nhất của Hoa Kỳ thế kỷ 20, là người đặt nền móng cho nền giáo dục hiện đại của Hoa Kỳ. Ông chủ trương gắn liền giáo dục lý thuyết và thực tiễn theo quan điểm: “học qua làm, học bắt đầu từ làm”. Năm 1896, John Dewey bắt đầu ý tưởng về giáo dục dựa trên kinh nghiệm (experiential education).
Đến năm 1938, trong công trình nghiên cứu Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education, 1938), ông đã làm rõ ý nghĩa của kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa vốn kinh nghiệm của người học với hoạt động dạy học. Theo ông, chương trình dạy học và việc dạy học phải là quá trình xâu chuỗi các thành tố giữa kinh nghiệm cũ và mới của trẻ; quá trình học của trẻ phải là quá trình hình thành cái nhìn mới và kinh nghiệm mới. Cùng quan điểm trên, Kurt Lewin (1890-1947) cũng đánh giá cao vai trò của kinh nghiệm cá nhân đối với học tập dựa vào trải nghiệm. Theo ông, khi xuất hiện một cuộc xung đột biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc giải quyết nhiệm vụ học tập thì kết quả học tập sẽ đạt được tối đa.
Đồng thời, Lewin đưa ra mô hình học tập trải nghiệm gồm 4 giai đoạn: Reflect (suy nghĩ về tình huống học tập), Plan (lập kế hoạch giải quyết tình huống học tập), Act (thực hiện kế hoạch), Observe (quan sát những kết quả đạt được) Luan van 9 Reflect Observe Plant Act Hình 1. Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kurt Lewin Theo ông, trong nghiên cứu hành động và đào tạo trong phòng thí nghiệm, học tập là một quá trình tích hợp, được bắt đầu với việc suy nghĩ về tình huống học tập cụ thể; tiếp theo người học sẽ lập kế hoạch giải quyết tình huống; các kế hoạch này sau đó được tổ chức thực hiện; cuối cùng quan sát kết quả đạt được. Năm 1960, Jean Piaget (1896-1980), nhà tâm lí học phát triển người Thụy Sỹ, đã thực hiện một nghiên cứu về kinh nghiệm và kiến thức của con người. Ông cho rằng, kinh nghiệm của một cá nhân quyết định trí thông minh của người đó.
Đồng thời, trí thông minh đó là sản phẩm của quá trình tương tác giữa chính họ với môi trường sống xung quanh. Nhiều nhà tâm lí học thống nhất với ông, sự phát triển trí tuệ trẻ em chia thành 4 giai đoạn lớn như sau: Giai đoạn cảm giác - vận động (từ 0-3 tuổi); Giai đoạn tiền thao tác cụ thể (từ 3-7, 8 tuổi); Giai đoạn thao tác cụ thể (từ 7,8 tuổi - 11 tuổi); Giai đoạn thao tác hình thức hay tư duy logic (từ 11-14,15 tuổi). Và đối với trẻ em, trải nghiệm có vai trò quyết định trong việc phát triển nhận thức: trí tuệ của trẻ Luan van 10 em ở giai đoạn này là sự kế thừa kinh nghiệm giai đoạn trước; là sự kết hợp thống nhất các kinh nghiệm đã có từ giai đoạn trước; là kết quả của một quá trình trải nghiệm. Sự phát triển nhận thức theo Piaget cũng đi theo chu trình 4 bước: từ hiện tượng cụ thể (1), đến sự phản ánh (2), đến tư duy trừu tượng (3), đến hành động trí tuệ chủ động (4).
Hiện tượng cụ thể Hành Sự phản động chủ ánh động Tư duy trừu tượng Hình 1. Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Jean Piaget Năm 1984, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm của Dewey, Lewin, Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb, nhà lí luận giáo dục Hoa Kỳ, đã công bố nghiên cứu về học tập dựa vào trải nghiệm: Study experience: Experience is the source of Learning and Development (Học tập trải nghiệm: Trải nghiệm là nguồn học tập và phát triển). Nghiên cứu này xác định đặc điểm của học tập dựa vào trải nghiệm và các giai đoạn của học tập dựa vào trải nghiệm. Đối với Kolb, khái niệm học tập được hiểu như quá trình chuyển đổi kinh nghiệm của chính người học để tạo ra kiến thức.
Trong suốt quá trình đó, người học tạo ra kiến thức bằng cách kiểm nghiệm những kinh nghiệm sẵn có của bản thân trong môi trường học tập thực tiễn.