phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương. CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài CHƢƠNG 2: Một số biện pháp dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong chƣơng trình THPT theo hƣớng tiếp cận liên văn bản CHƢƠNG 3: Thực nghiệm sƣ phạm -8- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm liên văn bản Liên văn bản là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong các lý thuyết văn học thế giới từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, có sức hấp dẫn đặc biệt với các nhà nghiên cứu phê bình văn học trên thế giới và ở cả nước ta. Đầu thế kỉ XX, khái niệm văn bản được phát hiện đã làm thay đổi hẳn quan niệm về tác phẩm văn học, cấu trúc, vị trí và vai trò của tác giả và độc giả.
Nhưng đến nửa cuối thế kỉ XX, khái niệm tính LVB ra đời “thay đổi hẳn nội hàm khái niệm văn bản để cuối cùng cả hai cơ hồ trở thành hai từ đồng nghĩa: không có một văn bản nào không phải là một liên văn bản và ngược lại, không có một liên văn bản nào không tồn tại như một văn bản. Thuật ngữ tính liên văn bản (intertextuality) xuất hiện đầu tiên J. Kristeva sử dụng trong một tham luận đọc tại xêmina do R. Barthes chủ trì vào mùa thu năm 1966.
Bài báo Bakhtin, lời nói, đối thoại và tiểu thuyết được công bố sau đó (1967). Trong bài báo này, Kristeva đã đặt ra thuật ngữ tính liên văn bản để thay thế cho quan niệm về tính đối thoại/tính liên chủ thể (subjectivity/ intersubjectivity) của Mikhail Bakhtin. Đây không phải là sự chuyển dịch ngôn ngữ mà là sự luận giải nguyên tắc đối thoại của Bakhtin theo tinh thần giải cấu trúc (deconstruction). Kristeva cho rằng: “bất kì văn bản nào cũng được cấu trúc như là sự ghép mảnh của các trích dẫn; bất kì văn bản nào cũng là sự hấp thụ và chuyển đổi của các văn bản khác” [7, tr.
Theo bà, một văn bản mới không phải là một khách thể mang tính cá nhân, cô lập, tự trị mà là sản phẩm của một sự biên tập văn bản văn hóa - lịch sử. Nói cách khác, không có văn bản tồn tại độc lập như một sự sáng tạo tuyệt đối mà luôn luôn phải chịu sự tác động của văn bản văn hóa, trong đó chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ và quyền lực qua các hình thức diễn -9- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngôn khác nhau. Kristeva quy cho văn bản trong giới hạn của hai trục: trục ngang kết nối giữa tác giả và người đọc văn bản, trục dọc kết nối giữa văn bản với các văn bản khác. Nhóm Tel Quel đứng đầu là Philippe Soller ủng hộ nhiệt tình lý thuyết Kristeva song lại chỉ nhận được sự tiếp đón dè dặt của giới trí thức Pháp thời kì đó.
Người có công lớn đưa lý thuyết liên văn bản dần thâm nhập sâu vào đời sống nghiên cứu văn học là R.Barthes “Mỗi văn bản là một liên văn bản; những văn bản khác có mặt trong nó ở những cấp độ khác nhau, giữa những hình thái ít nhiều nhận thấy được: những văn bản của văn hóa trước đó và những văn bản của văn hóa thực tại chung quanh. Mỗi văn bản đều như là một tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ. Những đoạn của các mã văn hóa, các định thức, các cấu trúc nhịp điệu, những mảnh vụn biệt ngữ xã hội. - tất cả đều bị văn bản ngốn nuốt và đều bị hòa trộn trong văn bản, bởi vì trước văn bản và xung quanh nó bao giờ cũng tồn tại ngôn ngữ” [18, tr.
Với lập luận trên, R.Barthes đưa lại cách nhìn mới có tính nền tảng về văn bản, văn bản không bao giờ tồn tại độc lập, tự trị, khép kín mà tồn tại trong không gian đa chiều, nơi có rất nhiều văn bản va đập và xáo trộn vào nhau mà không một cái nào là gốc cả. Barthes đã tiếp tục nghiên cứu phát triển một cách độc đáo những luận điểm cơ bản của lý thuyết liên văn bản trong cuốn S/Z (1970), và tiểu luận, ví như Từ tác phẩm đến văn bản (1971), Văn bản (lí luận văn bản) (1973), Khoái cảm văn bản (1973). Từ đây lý thuyết liên văn bản đã thực sự được giới phê bình quan tâm nghiên cứu. Tiếp sau đó có quan điểm của Michael Riffaterre, G.Genette, Harold Bloom.
đưa ra những cách nhìn khác về tính liên văn bản, nhưng ở họ đều có điểm thống nhất khái niệm liên văn bản giống R.Barthes về cơ bản, họ đều có nhận thức chung rằng bất kì văn bản nào đều có mối quan hệ với văn bản khác ra đời trước đó. Dựa vào những khái niệm trên, chúng tôi xin đưa ra quan niệm: Liên văn bản là sự đồng hiện của hai hay nhiều văn bản trong một văn bản ra đời - 10 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trước đó hoặc cùng thời, được tác giả tạo lập bằng ý thức hoặc vô thức. Người đọc tiếp nhận trong thực tiễn giao tiếp nghệ thuật bằng vốn sống trải nghiệm và tri thức của bản thân họ, từ đó các giá trị văn hóa sẽ không ngừng nảy sinh từ văn bản. Liên văn bản từ quan niệm kinh điển đến hậu hiện đại Tính liên văn bản của văn bản có từ lâu, từ các loại hình nghệ thuật cổ xưa, vì bản chất nghệ thuật không chỉ là mô phỏng đời sống mà còn mô phỏng (tái tạo) từ văn bản này đến văn bản khác (từ văn bản thể loại này văn bản sang thể loại khác, từ loại hình nghệ thuật này sang loại hình nghệ thuật khác).
Trên thực tế, có nhiều mối liên hệ trực tiếp giữa văn bản này với một hay nhiều văn bản khác trên những bình diện khác nhau. Trong thời kỳ trung đại việc sử dụng điển cố, vay mượn cốt truyện, sử dụng lại các motif khá phổ biến. Vì vậy, khi lưu hành văn bản văn học cho hậu thế người ta phải chú giải rất nhiều về các điển cố, giải mã các biểu tượng văn hóa và hình thành một công việc khảo cứu trong nghiên cứu văn học. Từ thực tế của tính liên văn bản đã hình thành một số hướng nghiên cứu như: nghiên cứu ảnh hưởng (influence study), nghiên cứu cội nguồn (source study), nghiên cứu so sánh (comparative study).
Các hướng nghiên cứu này có tham vọng chỉ ra văn bản gốc có ảnh hưởng/dính líu đến các văn bản khác, từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các văn bản. Thuật ngữ tính liên văn bản được đặt ra trong bối cảnh cấu trúc luận (structuralism) đang bị đả phá tại Pháp vào nửa cuối những năm sáu mươi của thế kỷ XX. Những nhà nghiên cứu văn học như Derrida, Roland Barthes, Micheal Foucault, Philippe Sollers chống lại tư tưởng cấu trúc luận, phủ nhận sự biểu nghĩa ổn định của cấu trúc. Họ cho rằng, cái được biểu đạt thực chất cũng là cái biểu đạt và họ đề nghị một cấu trúc mới: cái biểu đạt/cái biểu đạt.
Trở lại quan niệm của F.Saussure về kí hiệu ngôn ngữ, ông cho rằng mỗi kí hiệu ngôn ngữ có hai mặt không thể tách rời, đó là cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Cái biểu đạt là hình ảnh - âm thanh, cái được biểu đạt là khái - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niệm của kí hiệu. Cái được biểu đạt không phải là “sự vật” mà chỉ là quan niệm của chúng ta về sự vật. Như vậy, sự quy chiếu kí hiệu ngôn ngữ với thực tại chỉ là ảo tưởng của người đọc.
Sự quy chiếu của kí hiệu ngôn ngữ hướng tới hệ thống ngôn ngữ chứ không phải hướng tới thế giới sự vật bên ngoài. Michael Riffaterre đã phát triển luận điểm này trong đọc văn bản. Khi đọc văn bản văn học, bạn đọc trước hết cần phải “vượt qua chướng ngại mô phỏng”, vượt qua giai đoạn đối chiếu ngôn từ và sự vật để bước vào chặng thứ hai: “đọc theo tinh thần phát hiện”, khám phá những đơn vị kí hiệu và những cấu trúc cô đúc sản sinh ý nghĩa và chủ đề của văn bản theo cách thức phi tuyến tính, phi quy chiếu [36]. Theo đó, “ngôn từ thơ được xác lập giữa từ và văn bản, hay giữa văn bản này với văn bản khác”, tức là đọc một văn bản thơ, người đọc cần phải cảm nhận bằng những kiến thức vốn có về văn bản, đồng thời phải thấy được mối liên hệ giữa văn bản ấy với những văn bản ra đời trước, cùng thời và thậm chí sau nó.
Theo hệ quy chiếu này, mỗi văn bản đều chịu sự chi phối của vũ trụ gồm nhiều văn bản khác và khi đọc văn bản cần đặt nó trong mạng lưới rộng lớn của nhiều văn hóa để nhận diện nó như là kết quả của một quá trình tương tác. Như vậy quan niệm truyền thống, liên văn bản được hiểu như là một thủ pháp nghệ thuật văn học xác định: trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn. Nghĩa là, từ văn bản gốc và xu hướng sử dụng văn bản gốc, sẽ có các liên văn bản. Theo quan niệm của các nhà hậu hiện đại, liên văn bản được hiểu như một thuộc tính bản thể của mọi văn bản “bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản” (R.
Barthes), là sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của các tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và loại hình khác nhau, giữa văn bản và độc giả, và cuối cùng, giữa các văn bản và hiện thực. Như vậy, liên văn bản mô tả không phải hiện tượng văn học, mà một quy luật khách quan nào đấy của sự tồn tại của loài người nói chung. - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan hệ liên văn bản và nhiệm vụ liên văn bản * Những kiểu tương tác chủ yếu của quan hệ liên văn bản Như đã trình bày ở trên, thực chất lí thuyết liên văn bản là lý giải về đặc trưng của văn bản mà trọng tâm là các mối quan hệ của văn bản.
Không có văn bản nào tồn tại độc lập, tự trị, mỗi văn bản đều là hệ quả của những quan hệ, tồn tại trong quan hệ với mạng lưới văn bản rộng lớn. Tùy thuộc vào quan điểm và hướng tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đưa ra những kiểu quan hệ khác nhau.