Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Thiết kế một số giáo án dạy học phần phương pháp tọa độ trong mặt phẳng bằng phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Dạy học khám phá 1. Một số quan điểm về dạy học khám phá 1. Quan niệm về dạy học khám phá của các tác giả nước ngoài Theo Ferriere Jerome Bruner, nhà tâm lý học Mỹ cho rằng học là một quá trình mang tính chủ quan.
Qua quá trình này, người học hình thành nên các ý tưởng hoặc khái niệm mới dựa trên cơ sở vốn kiến thức đã có sẵn của mình. Ông khẳng định rằng trong quá trình học tập, HS cần được khuyến khích và dạy cách tự do khám phá thông tin. Bruner cho rằng việc học tập khám phá xảy ra khi các cá nhân phải sử dụng quá trình tư duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều gì đó cho bản thân họ. Để có được điều này, người học phải kết hợp các thao tác quan sát, so sánh, làm rõ ý nghĩa của thông tin để tạo ra sự hiểu biết mới mà trước đây họ chưa từng biết.
Vai trò của người GV là khuyến khích tạo điều kiện để HS tự khám phá ra các nguyên lý. Người dạy có nhiệm vụ truyền tải các thông tin cần học với một phương pháp phù hợp với khả năng hiểu biết hiện tại của HS, xây dựng giáo án theo mô hình xoắn ốc để người học có thể tự xây dựng kiến thức mới từ những kiến thức vốn có của mình. Ông cũng khẳng định rằng trong dạy học khám phá không phải HS khám phá ra tất cả các dữ liệu thông tin mà họ khám phá ra sự liên quan giữa các ý tưởng và các khái niệm bằng cách sử dụng những cái đã học. Bruner đã chỉ ra 4 lí do cho việc sử dụng phương pháp dạy học khám phá đó là: thúc đẩy tư duy người học, phát triển động lực bên trong hơn là tác động bên ngoài, người học có thể học cách khám phá và nó giúp phát triển trí nhớ.
Geofffrey Petty nêu ra một cách tiếp cận trong dạy học đó là dạy học bằng cách đặt câu hỏi. Trong cách dạy này GV đặt câu hỏi hoặc giao bài tập yêu cầu HS phải tự tìm ra kiến thức mới thông qua việc trả lời các câu hỏi làm bài tập. Như vậy, người học phải huy động những kiến thức có sẵn của mình, 10 z thực hiện các thao tác tư duy, khám phá ra tri thức mới. Ở đây quá trình khám phá của người học đã được GV lập kịch bản sẵn tức là có sự chuẩn bị đặc biệt, người học được đặt vào kịch bản đó, thực hiện các công việc được người GV bố trí sẵn.
Kiến thức mới người học tìm ra sẽ được GV chỉnh sửa và khẳng định lại. Dạy học khám phá có hướng dẫn là một hình thức của cách tiếp cận này. Ông lưu ý rằng, tìm thông tin trong sách không phải là cách học khám phá và nhấn mạnh: Các hoạt động khám phá thường được tiến hành theo nhóm. Chúng đòi hỏi phải có kĩ năng tư duy cao để tìm ra cái mới.
Vì người học tự tìm tòi vấn đề cho nên việc học có chất lượng cao. Theo Jacke Richards, John Platt và Heidi Platt dạy học khám phá là dạy và học dựa trên những quy luật sau : - Người học phát triển quá trình tư duy liên quan đến việc khám phá và tìm hiểu thông qua quá trình quan sát, phân loại, đánh giá, tiên đoán, mô tả và suy luận. - GV sử dụng một phương pháp dạy học đặc trưng hỗ trợ quá trình khám khá và tìm hiểu. - Giáo trình giảng dạy không phải là nguồn thông tin, kiến thức duy nhất cho người học.
- Kết luận đưa ra với mục đích thảo luận chứ không phải là khẳng định cuối cùng. - Người học phải lập kế hoạch, tiến hành và đánh giá quá trình học của mình với sự hỗ trợ của GV. Quan điểm về dạy học khám phá của các tác giả trong nước Tư tưởng dạy học khám phá cũng được thể hiện qua một số tài liệu của các tác giả trong nước như Nguyễn Bá Kim, Trần Bá Hoành,. Các tác giả cho rằng học tập là quá trình lĩnh hội những tri thức mà loài người tích lũy được.
Trong học tập HS cũng phải được khám phá ra những hiểu biết mới đối với bản thân. HS sẽ thông hiểu, ghi nhớ và vận dụng linh hoạt những gì mình đã nắm được thông qua hoạt động tự lực khám phá của chính mình. Tới một 11 z trình độ nhất định thì sự học tập tích cực, sự khám phá sẽ mang tính nghiên cứu khoa học và người học cũng tạo ra tri thức mới cho khoa học. Đặc điểm của dạy học khám phá Theo Bicknell-Holmes and Hoffman (2000), dạy học khám phá có ba đặc điểm sau đây: 1.
Khảo sát và giải quyết vấn đề để hình thành, khái quát hóa kiến thức. Đặc điểm thứ nhất này rất quan trọng. Thông qua việc khảo sát và giải quyết vấn đề, HS có vai trò tích cực trong việc tạo ra kiến thức, thay cho việc chỉ lắng nghe bài giảng, HS có cơ hội vận dụng các kĩ năng khác nhau trong các hoạt động. HS chính là người làm chủ việc học tập chứ không phải là thầy giáo.
HS được thu hút vào hoạt động, hoạt động dựa trên sự hứng thú và ở đó HS có thể xác định được trình tự và thời gian. Đặc điểm thứ hai này khuyến khích HS học tập theo nhịp độ riêng của mình. Học tập không phải là một tiến trình cứng nhắc không thay đổi được. Đặc điểm này giúp HS có động cơ và làm chủ việc học của mình.
Hoạt động khuyến khích việc liên kết kiến thức mới vào vốn kiến thức của người học. Đặc điểm thứ ba này dựa trên nguyên tắc là sử dụng kiến thức mà HS đã biết làm cơ sở cho việc xây dựng kiến thức mới. Trong dạy học khám phá, HS luôn luôn đặt trong những tình huống sao cho từ kiến thức vốn có của mình các em có thể mở rộng hay phát hiện ra những ý tưởng mới. Từ ba đặc điểm trên, dạy học khám phá 5 điểm khác biệt so với các phương pháp dạy học truyền thống là : + Người học tích cực chứ không thụ động.
+ Việc học tập có tính quá trình chứ không là nội dung. + Thất bại là quan trọng. + Phản hồi là cần thiết. + Sự hiểu biết sâu hơn.
HSiniki(1998), dạy học khám phá có ba đặc điểm chính sau đây: * Học tập tích cực Người học tập là người tham gia tích cực trong quá trình học tập không phải là một chiếc thuyền rỗng chứa những lời giảng của thầy giáo. - Khi HS là người tham gia tích cực, HS sẽ tập trung chú ý cao hơn trong quá trình học tập của mình. Việc học tập sẽ không xảy ra nếu HS lơ là với việc học tập. - Các hoạt động nhằm tập trung chú ý của HS vào những tư tưởng then chốt mà các em được xem xét.
Các hoạt động luôn được thiết kế để làm rõ một khái niệm hay quy trình chứ không phải chỉ vì để hoạt động tích cực. Giai đoạn đầu tiên của quá trình học tập là phát hiện ra cái cần được học và HS được thu hút vào những hoạt động đó. - Tham gia tích cực nhằm để kiến tạo nên những lời giải, nhờ vậy mà HS sẽ có cơ hội thực hiện các quá trình xử lí thông tin một cách sâu sắc hơn. Khi học tập khám phá HS phải dựa vào kiến thức trước đó để đáp ứng những yêu cầu của các hoạt động.
Vì vậy, các em phải trải qua quá trình xử lí tài liệu. Nhờ vào quá trình xử lý này mà các em dễ huy động lại về sau khi cần vì nó đã có sự gắn kết với các kiến thức đã học của các em. - Học tập khám phá giúp HS có cơ hội nhận được phản hồi sớm về sự hiểu biết của mình. Trong cách dạy truyền thống, GV thường dạy học theo tốc độ của mình, thường ít quan tâm xem HS có nắm được các thông tin mà thầy giáo truyền đạt được hay không.
Trong dạy học khám phá, việc hổng kiến thức của HS không thể bị bỏ qua; việc phản hồi của GV xảy ra ngay trong bản thân nhiệm vụ học tập: HS thành công hay thất bại. GV chính là nguồn phản hồi khi GV xem xét sự tiến triển của HS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của HS. GV phải đối mặt với những thực trạng về sự hiểu biết của HS và bắt buộc GV phải có những ứng xử kịp thời. 13 z - Học trong môi trường tích cực làm cho HS có sự "ghi nhớ có tình tiết"; tức là việc ghi nhớ này gắn liền với một sự kiện.
Nhờ thế mà HS có thể tái tạo lại kiến thức nếu họ quên. - Dạy học khám phá gợi được động cơ học tập cho HS. Hầu hết các quá trình trong dạy học khám phá là khêu gợi được tính tò mò của HS. Khía cạnh tò mò và quá trình tìm kiếm những điều còn ẩn dấu nhằm thỏa mãn tính tò mò cả hai đều là những dạng của động cơ.
* Học tập có ý nghĩa Một chìa khóa thành công thứ hai của dạy học khám phá đó là học tập có ý nghĩa. - Dạy học khám phá có nhiều ý nghĩa vì nó tận dụng sự liên tưởng của bản thân HS như là cơ sở của sự hiểu biết. Trong học tập khám phá, HS phải sử dụng ngôn ngữ riêng của mình để diễn tả những điều mình phát hiện. Có cơ hội liên kết kiến thức mới với hệ thống kiến thức vốn có của mình; điều này giúp HS có thể huy động lại chúng khi cần.
- Dạy học khám phá buộc HS phải đương đầu với những ý tưởng hiện có của mình về chủ đề, nhiều trong chúng có thể là những sự hiểu sai lệch, và làm cho nó tương thích với điều mà các em quan sát. Trong giáo dục khoa học, một trong những vấn đề khó khăn nhất là vấn đề hiểu sai của HS. Trong dạy học khám phá, HS có cơ hội để điều chinh lại nhận thức sai của mình nhờ vào môi trường học tập. - Dạy học khám phá có tính cụ thể và do đó dễ cho người bắt đầu học trong lĩnh vực nào đó.
Hầu hết các nhiệm vụ khám phá được dựa trên các bài toán thực hoặc tình huống thực. Vì vậy, dạy học khám phá giúp HS dễ dàng hiểu được kiến thức. - Dạy học khám phá làm cho thông tin rõ ràng hơn.