Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tình hình nghiên cứu về dạy học tích hợp ở nước ngoài Dạy học tích hợp (DHTH) đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại bên cạnh các trào lưu sư phạm trên thế giới hiện nay, như: dạy học theo mục tiêu, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học phân hoá, tương tác. DHTH xuất phát từ quan niệm coi học tập là một quá trình góp phần hình thành ở người học những năng lực rõ ràng, trong đó người học sẽ học cách sử dụng phối hợp các kiến thức, kỹ năng và thao tác đã lĩnh hội được.
DHTH được tiếp cận theo hai hướng: hướng thứ nhất coi dạy học tích hợp là "một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau" (Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris 1972); hướng thứ hai quan niệm DHTH là một hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành, qua đó người học hình thành một năng lực nào đó. Tư tưởng tích hợp trong dạy học được thể hiện ở việc xây dựng chương trình dạy học của nhiều nước từ những năm 60 của thế kỷ XX và ngày càng được áp dụng rộng rãi. Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến năm 1974 đã có 208 chương trình môn học thể hiện quan điểm tích hợp ở các mức độ khác nhau, từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề. Từ năm 1960 đã có nhiều hội nghị bàn về việc phát triển chương trình theo hướng tích hợp.
Năm 1981, một tổ chức quốc tế đã được thành lập để cung cấp các thông tin về các chương trình tích hợp nhằm thúc đẩy việc áp dụng quan điểm tích hợp trong việc thiết kế chương trình các môn khoa học trên thế giới. 5 Tháng 9 năm 1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO, đã tổ chức tại Varna (Bungari) “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học” để đưa ra các lý do phải DHTH các khoa học, DHTH là gì, cách thức DHTH và những triển vọng của DHTH, trong đó có nêu: Tích hợp không chỉ diễn ra ở nội dung mà còn tích hợp cả ở phương pháp lẫn các kỹ năng, kỹ xảo cần hình thành ở người học. Tích hợp không chỉ ở một ngành học nào mà là liên ngành. Tích hợp không chỉ ở một bậc học nào mà ở tất cả các bậc học.
Tháng 4/1973 UNESCO đã tổ chức Hội nghị đào tạo giáo viên để nghiên cứu việc dạy học tích hợp các khoa học tại trường Đại học Tổng hợp Maryland. Ngoài ra, tích hợp là một trong những xu hướng mới của lý luận dạy học và đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm thực hiện. Ví dụ như Phần Lan - một trong những nước có nền giáo dục hàng đầu thế giới - đang bắt tay vào thực hiện cải cách, đến năm 2020 sẽ từng bước giảm thiểu việc dạy từng môn học riêng biệt và thay vào đó sẽ dạy học sinh (HS) theo các chủ đề thực tế, tích hợp nhiều lĩnh vực nhằm “giáo dục con em mình theo một cách khác để chúng có thể thích nghi tốt hơn với bối cảnh công việc và xã hội hiện đại hoàn toàn khác trước của thế kỷ 21” (Theo Pasi Silander- quản lý phát triển của Helsinki). Hay tại Úc, chương trình giáo dục tích hợp đã được áp dụng trong hệ thống giáo dục của đất nước này từ nhiều thập niên cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI.
Mục tiêu của chương trình giáo dục tích hợp cho giáo dục phổ thông tại Úc được xác định rõ như sau: Chương trình giáo dục tích hợp là hệ thống giảng dạy tích hợp đa ngành, trong hệ thống đó tầm quan trọng của việc phát triển và ứng dụng kỹ năng được chú trọng; quá trình dạy học tích hợp này bao gồm việc dạy, học và kiểm tra - đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức cũng như ứng dụng của HS phổ thông. Cũng có thể kể 6 đến là tại Phillipin, đã xuất bản cuốn sách có tên Fusion, trong đó đã kết hợp nhiều kiến thức, kỹ năng để phát huy sức mạnh tổng hợp đồng bộ của các phân môn trong tình huống nhận thức cũng như trong tình huống thực tiễn. Các phân môn hướng tới mục tiêu chung là hình thành, rèn luyện những kỹ năng quan trọng trong thu nạp thông tin và phát mại thông tin. Bên cạnh đó, trong chương trình cải cách giáo dục của một số nước, quan điểm tích hợp được ghi rõ trong chương trình như là một yêu cầu bắt buộc.
Một số tác giả trên thế giới đã có những nghiên cứu về DHTH. Xavier Roegiers cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem năng lực (compétence) là “khái niệm cơ sở" của khoa sư phạm tích hợp (pédagogie de l'intégration). Theo Xavier Roegiers, sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Như vậy sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa.
Tác giả D' Hainaut (1977) đưa ra 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học: quan điểm “đơn môn”, quan điểm “đa môn”, quan điểm “liên môn”, quan điểm “xuyên môn”. Nhu cầu phát triển xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường hướng tới quan điểm liên môn và quan điểm xuyên môn. Ngoài ra, để đáp ứng và phù hợp với thực tiễn giáo dục phổ thông, chương trình đào tạo giáo viên (GV) ở một số nước như Anh, Úc chuyển theo hướng tích hợp nhằm phát triển cho sinh viên sư phạm nền tảng về tri thức và triết lý cá nhân về chuyên môn sư phạm và năng lực nghề nghiệp. Chương trình đào tạo GV của Anh và Úc chú trọng về đào tạo nghiệp vụ sư phạm nhằm hình thành ở sinh viên năng lực và kỹ năng sư phạm cần thiết.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã khẳng định chương trình đào tạo GV của hai quốc 7 gia trên không nặng về rèn luyện kỹ thuật nghiệp vụ giảng dạy do tập trung đào tạo chuyên môn nghiệp vụ theo diện rộng (tích hợp liên môn, xuyên môn). Điều này giúp sinh viên sư phạm trở thành những nhà chuyên môn sư phạm biết kết hợp chặt chẽ giữa dạy lý thuyết và trải nghiệm thực tế, ứng dụng lý thuyết dạy học và giáo dục chung vào lĩnh hội những lĩnh vực giảng dạy cụ thể. Tình hình nghiên cứu về dạy học tích hợp ở trong nước Ở nước ta, từ Thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong một số môn học ở các trường tiểu học. Từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở (THCS) và gần đây áp dụng vào trong việc thiết kế chương trình, biên soạn giáo trình, sách giáo khoa, lập kế hoạch và tổ chức đào tạo ở lĩnh vực chuyên nghiệp trong đó có lĩnh vực đào tạo nghề theo quan điểm tích hợp.
Một số công trình nghiên cứu: Dương Tiến sỹ (2002), Phương thức và nguyên tắc tích hợp các môn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Tạp chí giáo dục. Nguyễn Văn Khải (2008), Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp vào dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp Bộ. TS Đỗ Hồng Thái (2011), Tài liệu hướng dẫn dạy học tích hợp trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ trọng điểm, đại học Thái Nguyên.
Đinh Xuân Giang (2009), Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp trong dạy học một số kiến thức về “chất khí” và “cơ sở của nhiệt động lực học” (Vật lý 10 - cơ bản) nhằm phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh, luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học Thái Nguyên. Phan Gia Phước (2012), Tổ chức dạy học môn Access theo hướng tích hợp tại 8 trường cao đẳng Nghề Thủ Đức, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm kỹ thuật TPHCM. Trong các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã đi sâu vào từng khía cạnh của chương trình giáo dục về đổi mới phương pháp, tổ chức dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động của người học trong quá trình nhận thức. Những năm gần đây, việc nghiên cứu và vận dụng quan điểm dạy học theo hướng tích hợp trong đào tạo nghề cũng được chú trọng.
Tuy nhiên, để triển khai cụ thể và rộng rãi ở từng cơ sở dạy nghề vẫn đang còn gặp nhiều vấn đề cần được nghiên cứu. Các đề tài luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ về vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học kỹ thuật tại các cơ sở đào tạo nghề cũng đã được nghiên cứu triển khai như: “Cải tiến phương pháp nghề tiện trong các trường chuyên nghiệp và dạy nghề tại thành phố Hồ Chí Minh” – luận án Tiến sĩ (2005) của Nguyễn Trần Nghĩa [24], “Dạy học công nghệ tiện CNC theo quan điểm tích hợp”, luận văn Thạc sĩ (2002) của Nguyễn Công Cát [5], “Vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học nghề điện trong các trường dạy nghề của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” – luận văn Thạc sĩ (2003) của Nguyễn Xuân Cường [7], “Dạy học môn trang bị điện ở trường cao đẳng nghề Việt Đức – Vĩnh Phúc theo quan điểm tích hợp” – luận văn Thạc sĩ (2012) của Nguyễn Thị Hồng Hạnh [12], “Tổ chức dạy học môn Access theo hướng tích hợp tại trường Cao đẳng nghề Thủ Đức” – luận văn Thạc sĩ Giáo dục học (2012) của Phan Gia Phước [25], “Dạy học modun máy điện theo quan điểm tích hợp ở trường cao đẳng nghề” – luận văn Thạc sĩ (2013) của Phan Thanh Nga [22], v.