CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4,5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giao tiếp và quan điểm giao tiếp ở tiểu học 1.
Nghiên cứu về giao tiếp Giao tiếp là nhu cầu và là điều kiện tất yếu của cuộc sống con người. Thông qua giao tiếp, cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội với toàn cộng đồng, nhờ có giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa xã hội và biến thành của riêng mình. Cũng qua giao tiếp con người biết và khẳng định giá trị của bản thân, trên cơ sở điều chỉnh bản thân theo chuẩn mực của xã hội. Vì thế, giao tiếp được nhắc đến từ khá sớm.
Từ thời kì cổ đại Xocrate (470- 399 trước công nguyên) và Platon (428 - 347 trước công nguyên) đã coi đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người. Đến thời kì Phục hưng (1452 – 1512) họa sĩ Lêôna Đơ Vanh xi đã mô tả sự giao tiếp giữa mẹ và con trong những bức vẽ của mình; Nhà triết học Đức Phơ - bách (1804 - 1872) đã khẳng định “ Bản chất người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn” [6]. Giữa thế kỉ XIX, C.Mác (1818 - 1883)[6] trong Bản thảo kinh tế triết học (1884) đã bàn về nhu cầu cơ bản giữa con người với con người. Mác đã chỉ ra rằng trong sản xuất vật chất và tái sản xuất vật chất, con người buộc phải có giao tiếp trực tiếp với nhau.
Con người chỉ trở thành con người khi có mối quan hệ hiện thực với người khác, có giao tiếp trực tiếp với người khác.Ăngghen [57] hiểu giao tiếp như là một quá trình thống nhất, hợp tác, tác động qua lại giữa người với người. Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX, hàng loạt các nhà tâm lý học hiện đại, với nhiều công trình nghiên cứu, họ coi phạm trù giao tiếp như là một phạm trù cơ bản thể hiện trong các công trình nghiên cứu [52], [48], [51], [15], [82] của của các nhà nghiên cứu tâm lí học nước Nga. 8 Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm 70 - 80 của thế kỉ XX. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về giao tiếp trên thế giới, các tác giả trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về giao tiếp ở những góc độ khác nhau.
Dưới góc độ tâm lí giáo dục, có thể kể đến những nghiên cứu của Hoàng Anh [3], [4], Ngô Công Hoàn [34], Nguyễn Quang Uẩn [77], Trần Trọng Thủy [73], [74], Đặng Thành Hưng [39], [40], Trần Thị Tố Oanh [64], [65], [66]. Các tác giả đều đưa ra quan niệm chi tiết về giao tiếp, bản chất của giao tiếp, vai trò của giao tiếp, phân loại giao tiếp, chỉ ra một số kĩ năng giao tiếp và đặc điểm hành vi giao tiếp. Nguyễn Văn Lê [51], Trần Trọng Thủy [73], [74], Hoàng Anh [3], [4] đã đề cập đến: Những cơ sở khoa học của giao tiếp, Mô hình giao tiếp, Chức năng giao tiếp, Loại hình giao tiếp; hệ thống các khái niệm, những chỉ dẫn về giao tiếp sư phạm; cụ thể hóa các quy tắc giao tiếp xã hội, giao tiếp sư phạm, giao tiếp trong cộng đồng và gia đình. Từ góc độ xã hội và giáo dục, Đặng Thành Hưng cho rằng: Giao tiếp là quá trình và kết quả tương tác giữa các bên tham gia thông qua những hành vi tiếp xúc, phát ra thông điệp, tiếp nhận, xử lí, chọn lọc và đánh giá thông tin từ bên kia, trao đổi, chia sẻ, ứng xử và gây ảnh hưởng lẫn nhau dựa vào các phương tiện mà các bên cùng hiểu và chấp nhận để đạt mục đích của mỗi bên.
Thiếu những điều kiện cùng hiểu và chấp nhận phương tiện giao tiếp thì giữa các bên không có giao tiếp, mà chỉ là gặp gỡ thôi. Thiếu điều kiện ảnh hưởng lẫn nhau thì cuộc tiếp xúc đó cũng không phải giao tiếp mà là tác động một chiều. Nói gọn lại giao tiếp là tương tác dựa vào thông tin, và thông tin ở đây là có ý đồ, tự giác và có nghĩa đã định, thông qua các phương tiện khác nhau (ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, công cụ, đồ vật.) mà hai bên cùng chấp nhận, đều hiểu và có thể chia sẻ.[39] Bên cạnh những nghiên cứu về giao tiếp trong lĩnh vực tâm lí học, giáo dục học, giao tiếp còn được nghiên cứu nhiều ở lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ [86],[12], … các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ, giao tiếp được nghiên cứu dưới nhiều góc độ: Giao 9 tiếp là phương pháp dạy học [11]; giao tiếp là nguyên tắc dạy học Tiếng Việt [60]; giao tiếp là hướng, quan điểm dạy học [19], [76]; giao tiếp là năng lực [85]; giao tiếp là kĩ năng (là kĩ năng thành phần của kĩ năng sống, kĩ năng mềm, kĩ năng xã hội) [39], [41].
Dưới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Giao tiếp là một hoạt động liên cá nhân, có chức năng truyền đạt những thông tin về sự vật, hiện tượng của thực tế (thông tin miêu tả hay thông tin sự vật) nhằm tạo ra những biến đổi trong tình cảm, trạng thái tâm lí và hoạt động giữa những người tham gia giao tiếp (thông tin liên cá nhân hay thông tin tác động). Nó cũng là nơi con người bộc lộ chính mình, mỗi chức năng trên của giao tiếp đòi hỏi phải có một loại tín hiệu phù hợp với nó” [14]. Đỗ Hữu Châu xác định các nhân tố giao tiếp là: Ngữ cảnh (nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn), ngôn ngữ (với các phương diện: Đường kênh thính giác và thị giác của ngôn ngữ; các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng) và diễn ngôn được hiểu là “một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ, tức chỉ các sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy” [14]. Bùi Minh Toán quan niệm “giao tiếp chính là sự tiếp xúc, giao lưu giữa người và người trong xã hội, qua đó con người bộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng và cả tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với những điều được diễn đạt,.
Theo tác giả các nhân tố giao tiếp bao gồm: Nhân vật, hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp mà thiếu chúng thì hoạt động giao tiếp không thể tiến hành được. Diệp Quang Ban cho rằng: “Giao tiếp là hiện tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó. Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể không phải là xã hội” [8; Tr. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về giao tiếp khá phong phú, và giao tiếp được xem xét ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có giao tiếp trong kinh doanh, giao tiếp sư phạm, giao tiếp văn học, giao tiếp trong gia đình,… Dù ở lĩnh vực nào thì các công trình nghiên cứu đều khẳng định: Giao 10 tiếp là hoạt động quan trọng bậc nhất của con người, không chỉ giúp trao đổi thông tin và còn giúp tạo lập quan hệ người, thể hiện tình cảm, cảm xúc của con người với nhau.
Nghiên cứu về quan điểm giao tiếp Dạy học văn bản dạng nói và dạng viết trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp là xu hướng hiện đại trong chương trình dạy học tiếng mẹ đẻ của nhiều quốc gia. Theo Nguyễn Trí, nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch, tổ chức dạy tiếng mẹ đẻ ở chương trình học của các nước trên thế giới là triệt để phục vụ cho năng lực giao tiếp của họ. Chương trình dạy tiếng Pháp bang Quebec, Canada quy định “Việc giảng dạy tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong lớp học tiếng Pháp, học sinh phải luôn luôn được đặt vào tình huống giao tiếp“ [76; Tr. Chương trình dạy tiếng mẹ đẻ ở Malaisia viết: “Chương trình dạy tiếng mẹ đẻ ở Malaisia bao gồm những kĩ năng cơ bản về nghe nói đọc viết nhằm làm cho học sinh sử dụng lời nói vì những mục đích thực tiễn và sáng tạọ [76; Tr.
Ở Việt Nam, “Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp” là vấn đề đã được lưu tâm từ lâu. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định dạy học theo hướng giao tiếp là một hướng đi đúng. Có thể điểm đến một vài công trình nghiên cứu về dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp được nhiều người quan tâm như: Về việc dạy tiếng ở trường phổ thông (Nguyễn Minh Thuyết) [73]; Giao tiếp ngôn ngữ và vấn đề dạy bản ngữ (Trương Dĩnh) [18]; Về quan điểm giao tiếp trong giảng dạy tiếng Việt (Bùi Minh Toán) [75]; Một số vấn đề về ngôn bản nói và ngôn bản viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp (Nguyễn Quang Ninh) [58]; Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp [76]; Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong dạy học Tiếng Việt (Đỗ Việt Hùng) [34];… Trong Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt, tập 2 [60] do các tác giả Lê Phương Nga – Nguyễn Trí biên soạn có tám chương, trong đó các tác giả dành một chương để nói về QĐGT trong dạy học Tiếng Việt. Trong chương một các tác giả nói khá rõ về: Giao tiếp và hoạt động giao tiếp; Những 11 cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học TV; Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong việc dạy học TV.
Trong một nghiên cứu khác của Lê Phương Nga Dạy học các tri thức Tiếng Việt ở Tiểu học theo quan điểm giao tiếp đã trả lời câu hỏi: Thế nào là dạy học các tri thức Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp“ dựa trên các luận điểm sau: Dạy học các tri thức Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp đòi hỏi phải thống nhất chức năng hướng nội và chức năng hướng ngoại của ngôn ngữ; Dạy học các tri thức tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp đòi hỏi phải tối giản hóa quá trình nhận diện, phân loại, phân tích các đơn vị ngôn ngữ, kiểu loại ngôn ngữ trong giao tiếp; phải đặt quá trình hình thành tri thức tiếng Việt trong hai quá trình sản sinh và tạo lập ngôn bản [63; tr.