Đề Tài Nghiên Cứu: Dạy Học Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Cho Học Sinh Lớp 4, 5 Theo Quan Điểm Giao Tiếp

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục nghiên cứu phương pháp dạy đọc hiểu văn bản truyện cho học sinh lớp 4, 5 theo quan điểm giao tiếp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

232
2
2

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Luận điểm bảo vệ

0.8. Đóng góp mới của luận án

0.9. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4,5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu về giao tiếp và quan điểm giao tiếp ở tiểu học

1.1.1.1. Nghiên cứu về giao tiếp

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4,5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

2.1. Khảo sát nội dung dạy học đọc hiểu văn bản truyện của chương trình môn Tiếng Việt lớp 4,5

2.2. Khảo sát mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4, 5

2.3. Nhận xét Quy trình dạy Tập đọc lớp 4, 5

2.4. Nhận xét bài tập đọc hiểu văn bản truyện trong sách giáo khoa, phân môn Tập đọc lớp 4, 5

2.5. Khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp ở một số trường tiểu học

2.5.1. Mục đích, qui mô, khách thể và địa bàn khảo sát

2.5.2. Nội dung khảo sát. Phương pháp và kĩ thuật khảo sát. Phân tích kết quả khảo sát

2.5.3. Nhận thức về quan điểm giao tiếp trong dạy học và dạy học đọc hiểu cho học sinh

2.5.4. Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản truyện ở lớp 4,5

2.5.5. Thực trạng học đọc hiểu văn bản truyện của học sinh lớp 4,5

2.5.6. Nhận định về những điều kiện ảnh hưởng

2.5.7. Đánh giá chung về thực trạng

2.5.8. Những thành tựu về dạy học đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp

2.5.9. Những khó khăn và thách thức

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

3.1. Xây dựng kĩ thuật thiết kế và tiến hành bài dạy đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp

3.2. Nguyên tắc thiết kế bài dạy đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp

3.3. Xác định quy trình thiết kế bài dạy đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp

3.4. Xây dựng bài tập đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp

3.5. Nguyên tắc xây dựng bài tập đọc hiểu văn bản truyện

3.6. Bài tập hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản truyện

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Giới thiệu quá trình thực nghiệm

4.2. Mục đích, qui mô, đối tượng và địa bàn thực nghiệm

4.3. Nội dung thực nghiệm

4.4. Phương pháp và kĩ thuật tiến hành

4.5. Phân tích kết quả thực nghiệm

4.6. So sánh sau thực nghiệm giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng

4.7. Nhận định chung về thực nghiệm

4.8. Kết luận chương 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dạy Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Lớp 4 5

Giao tiếp là yếu tố then chốt trong cuộc sống. Nó giúp cá nhân hòa nhập xã hội, tiếp thu văn hóa và khẳng định bản thân. Từ thời cổ đại, các nhà triết học như Xocrate và Platon đã xem đối thoại là hình thức giao tiếp trí tuệ. Đến thời Phục hưng, Leonardo da Vinci khắc họa giao tiếp mẹ con qua tranh vẽ. Triết gia Phơ-bách nhấn mạnh bản chất người chỉ thể hiện trong giao tiếp. C.Mác chỉ ra rằng con người cần giao tiếp trực tiếp trong sản xuất vật chất. Ăngghen coi giao tiếp là quá trình hợp tác, tác động qua lại. Các nhà tâm lý học hiện đại xem giao tiếp là phạm trù cơ bản trong nghiên cứu. Giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển kỹ năng đọc hiểu cho học sinh tiểu học.

1.1. Lịch Sử Nghiên Cứu Về Giao Tiếp Trong Giáo Dục

Ở Việt Nam, nghiên cứu về giao tiếp bắt đầu từ cuối những năm 70. Các tác giả như Hoàng Anh, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Đặng Thành Hưng, Trần Thị Tố Oanh đã đưa ra quan niệm chi tiết về giao tiếp, bản chất, vai trò, phân loại, kỹ năng và đặc điểm hành vi giao tiếp. Các tác giả đề cập đến cơ sở khoa học, mô hình, chức năng, loại hình giao tiếp, quy tắc giao tiếp xã hội, sư phạm, cộng đồng và gia đình. Những nghiên cứu này đặt nền móng cho việc ứng dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học.

1.2. Định Nghĩa Giao Tiếp Theo Quan Điểm Giáo Dục Hiện Đại

Đặng Thành Hưng định nghĩa giao tiếp là quá trình tương tác giữa các bên thông qua hành vi tiếp xúc, truyền đạt thông điệp, tiếp nhận, xử lý thông tin, trao đổi, chia sẻ, ứng xử và gây ảnh hưởng lẫn nhau. Điều kiện cần là sự hiểu biết và chấp nhận phương tiện giao tiếp chung. Thiếu điều này, chỉ có gặp gỡ chứ không có giao tiếp thực sự. Giao tiếp là tương tác dựa trên thông tin có ý đồ, tự giác và có nghĩa, thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, công cụ mà hai bên cùng hiểu và chia sẻ. Mục tiêu dạy đọc hiểu là giúp học sinh giao tiếp hiệu quả với văn bản.

II. Thách Thức Dạy Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Lớp 4 5 Hiện Nay

BGDĐT chỉ đạo xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa và đổi mới dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học dựa trên quan điểm giao tiếp, tích hợp và tích cực hóa hoạt động của học sinh. Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp là tổ chức cho học sinh học trong giao tiếp, bằng giao tiếp, vì mục đích giao tiếp, để hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Chương trình và SGK đã chú ý tổ chức các hoạt động học để học sinh vừa học tốt tiếng Việt vừa nâng cao năng lực giao tiếp. Tuy nhiên, việc triển khai quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt, đặc biệt là dạy học đọc hiểu văn bản truyện, vẫn còn nhiều hạn chế.

2.1. Thiếu Cụ Thể Hóa Quan Điểm Giao Tiếp Trong Dạy Đọc Hiểu

Cần bổ sung và làm rõ nhiều vấn đề để đáp ứng nhu cầu thực tiễn dạy học Tiếng Việt ở trường phổ thông. Đọc hiểu có bản chất giao tiếp và đối tượng của đọc hiểu là văn bản, sản phẩm giao tiếp đa dạng. Giao tiếp trong Tiếng Việt có hai quá trình: tạo lập lời nói (ký mã) và tiếp nhận lời nói (giải mã). Quan hệ giao tiếp trong quá trình tổ chức cho học sinh đọc hiểu gồm giao tiếp sư phạm và giao tiếp văn học. Cần cụ thể hóa quan điểm giao tiếp trong dạy học đọc hiểu để phù hợp với lứa tuổi tiểu học.

2.2. Vấn Đề Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Cho Tuổi Tiểu Học

Văn bản truyện được chọn dạy trong chương trình phân môn Tập đọc lớp 4,5 khá phong phú về hình thức và nội dung, phù hợp với nhu cầu nhận thức và học tập của học sinh. Lứa tuổi tiểu học thích đọc truyện. Truyện là trường học dạy dỗ các em về cách sống, cách nghĩ, cách hành động. Đọc truyện, trẻ làm giàu vốn ngôn ngữ, vốn sống, trí khôn và khả năng tưởng tượng. Tuy nhiên, cách đọc và hiểu văn bản của học sinh có những khác biệt so với người lớn. Cần có một cách đọc hiểu văn bản truyện phù hợp cho riêng tuổi tiểu học.

III. Phương Pháp Dạy Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Theo Giao Tiếp

Dạy đọc hiểu văn bản đang là một trong những nội dung được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm. Dạy đọc hiểu ở nhà trường cần hướng đến việc dạy cho học sinh phương pháp tự đọc để các em có khả năng đọc – hiểu được các văn bản ngoài nhà trường. Các công trình nghiên cứu về dạy học đọc hiểu khá phong phú và có giá trị, giúp cho dạy học đọc hiểu ở nhà trường tiểu học đạt hiệu quả. Dạy Tập đọc cho học sinh tiểu học đã có quy trình cụ thể rõ ràng và sau mỗi bài tập đọc, SGK đã cung cấp các câu hỏi giúp giáo viên tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản.

3.1. Hướng Dẫn Tự Đọc Hiểu Văn Bản Ngoài Nhà Trường

Dạy đọc hiểu ở nhà trường cần hướng đến việc dạy cho học sinh phương pháp tự đọc để các em có khả năng đọc – hiểu được các văn bản ngoài nhà trường. Các công trình nghiên cứu về dạy học đọc hiểu khá phong phú và có giá trị, giúp cho dạy học đọc hiểu ở nhà trường tiểu học đạt hiệu quả. Dạy Tập đọc cho học sinh tiểu học đã có quy trình cụ thể rõ ràng và sau mỗi bài tập đọc, SGK đã cung cấp các câu hỏi giúp giáo viên tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản.

3.2. Tạo Cơ Hội Thực Hành Giao Tiếp Trong Giờ Tập Đọc

Quy trình dạy học và bài tập hiện hành chủ yếu hướng vào mục tiêu cung cấp kiến thức, rèn kỹ năng tiếng Việt, chưa tạo nhiều cơ hội cho học sinh thực hành giao tiếp và liên hệ vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống. Dạy Tập đọc, dạy đọc hiểu trong giờ Tập đọc theo quan điểm giao tiếp sẽ phải dạy như thế nào? Làm thế nào để học sinh tiểu học sau quá trình học cách đọc hiểu theo chương trình, SGK sẽ có khả năng tự đọc hiểu các văn bản ngoài chương trình học?

IV. Biện Pháp Nâng Cao Kỹ Năng Đọc Hiểu Truyện Lớp 4 5

Đề tài nghiên cứu đề xuất các biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản truyện trong giờ Tập đọc theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4, 5 nhằm góp phần nâng cao năng lực đọc hiểu và kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh. Khách thể nghiên cứu là dạy học đọc hiểu ở lớp 4,5 gắn với mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp của người học. Đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học đọc hiểu cho học sinh lớp 4,5 theo chương trình, sách giáo khoa hiện hành làm phát triển năng lực giao tiếp của học sinh.

4.1. Tập Trung Vào Hoạt Động Học Của Học Sinh

Giả thuyết khoa học đặt ra là nếu các biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản truyện cho học sinh lớp 4,5 tập trung vào thiết kế những hoạt động học của học sinh nhằm hiểu ý nghĩa của những chi tiết và chủ đề, hiểu phương thức biểu đạt của văn bản, phản hồi và vận dụng văn bản thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng đọc hiểu, phát triển kĩ năng đọc hiểu và năng lực giao tiếp của học sinh.

4.2. Xây Dựng Biện Pháp Dạy Học Đọc Hiểu Hiệu Quả

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học đọc hiểu văn bản truyện theo quan điểm giao tiếp cho học sinh lớp 4,5. Xây dựng các biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản truyện ở lớp 4, 5 theo quan điểm giao tiếp trong phân môn Tập đọc. Thực nghiệm khoa học để kiểm tra tính khả thi và tác động của các biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản truyện ở lớp 4, 5 theo quan điểm giao tiếp trong phân môn Tập đọc.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Dạy Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Lớp 4 5

Các phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu lí luận (tổng quan, so sánh, khái quát hóa) và nghiên cứu thực tiễn (điều tra, thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu trường hợp). Luận điểm bảo vệ là đọc hiểu là một mặt của hoạt động giao tiếp. Dạy học đọc hiểu là tổ chức cho học sinh hiểu văn bản về nội dung và phương thức biểu đạt, từ đó phản hồi và vận dụng. Dạy học đọc hiểu theo quan điểm giao tiếp phải chú ý đến đặc điểm tâm lý, đặc điểm cảm thụ của học sinh thì việc học tập mới có thể đạt kết quả tốt.

5.1. Phát Triển Cơ Sở Lí Luận Về Đọc Hiểu Theo Giao Tiếp

Đóng góp mới của luận án là góp phần phát triển cơ sở lí luận của việc đọc hiểu và dạy học đọc hiểu theo quan điểm giao tiếp trong môn Tiếng Việt ở tiểu học. Phát hiện một số kinh nghiệm tốt trong dạy học đọc hiểu văn bản truyện ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp, cũng như một số hạn chế trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện.

5.2. Đề Xuất Biện Pháp Dạy Học Đọc Hiểu Mới

Đề xuất các biện pháp mới để dạy học đọc hiểu văn bản truyện ở lớp 4, 5 dựa vào kĩ thuật thiết kế dạy học và hệ thống bài tập được thực hiện theo trình tự hợp lí, thích hợp với nhiệm vụ dạy học đọc hiểu cho học sinh. Cấu trúc luận án gồm 4 chương: Cơ sở lí luận, Cơ sở thực tiễn, Biện pháp dạy học, Thực nghiệm sư phạm.

VI. Cơ Sở Lý Luận Dạy Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Lớp 4 5

Giao tiếp là nhu cầu và là điều kiện tất yếu của cuộc sống con người. Thông qua giao tiếp, cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội với toàn cộng đồng, nhờ có giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa xã hội và biến thành của riêng mình. Cũng qua giao tiếp con người biết và khẳng định giá trị của bản thân, trên cơ sở điều chỉnh bản thân theo chuẩn mực của xã hội. Vì thế, giao tiếp được nhắc đến từ khá sớm.

6.1. Nghiên Cứu Về Giao Tiếp Và Quan Điểm Giao Tiếp Ở Tiểu Học

Từ thời kì cổ đại Xocrate (470- 399 trước công nguyên) và Platon (428 - 347 trước công nguyên) đã coi đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người. Đến thời kì Phục hưng (1452 – 1512) họa sĩ Lêôna Đơ Vanh xi đã mô tả sự giao tiếp giữa mẹ và con trong những bức vẽ của mình; Nhà triết học Đức Phơ - bách (1804 - 1872) đã khẳng định “ Bản chất người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn” [6].

6.2. Nghiên Cứu Về Đọc Hiểu Và Dạy Học Đọc Hiểu Ở Tiểu Học

Giữa thế kỉ XIX, C.Mác (1818 - 1883)[6] trong Bản thảo kinh tế triết học (1884) đã bàn về nhu cầu cơ bản giữa con người với con người. Mác đã chỉ ra rằng trong sản xuất vật chất và tái sản xuất vật chất, con người buộc phải có giao tiếp trực tiếp với nhau. Con người chỉ trở thành con người khi có mối quan hệ hiện thực với người khác, có giao tiếp trực tiếp với người khác.Ăngghen [57] hiểu giao tiếp như là một quá trình thống nhất, hợp tác, tác động qua lại giữa người với người.

09/06/2025
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục dạy học đọc hiểu văn bản truyện cho học sinh lớp 4 5 theo quan điểm giao tiếp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4,5 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giao tiếp và quan điểm giao tiếp ở tiểu học 1.

Nghiên cứu về giao tiếp Giao tiếp là nhu cầu và là điều kiện tất yếu của cuộc sống con người. Thông qua giao tiếp, cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội với toàn cộng đồng, nhờ có giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa xã hội và biến thành của riêng mình. Cũng qua giao tiếp con người biết và khẳng định giá trị của bản thân, trên cơ sở điều chỉnh bản thân theo chuẩn mực của xã hội. Vì thế, giao tiếp được nhắc đến từ khá sớm.

Từ thời kì cổ đại Xocrate (470- 399 trước công nguyên) và Platon (428 - 347 trước công nguyên) đã coi đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người. Đến thời kì Phục hưng (1452 – 1512) họa sĩ Lêôna Đơ Vanh xi đã mô tả sự giao tiếp giữa mẹ và con trong những bức vẽ của mình; Nhà triết học Đức Phơ - bách (1804 - 1872) đã khẳng định “ Bản chất người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn” [6]. Giữa thế kỉ XIX, C.Mác (1818 - 1883)[6] trong Bản thảo kinh tế triết học (1884) đã bàn về nhu cầu cơ bản giữa con người với con người. Mác đã chỉ ra rằng trong sản xuất vật chất và tái sản xuất vật chất, con người buộc phải có giao tiếp trực tiếp với nhau.

Con người chỉ trở thành con người khi có mối quan hệ hiện thực với người khác, có giao tiếp trực tiếp với người khác.Ăngghen [57] hiểu giao tiếp như là một quá trình thống nhất, hợp tác, tác động qua lại giữa người với người. Bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX, hàng loạt các nhà tâm lý học hiện đại, với nhiều công trình nghiên cứu, họ coi phạm trù giao tiếp như là một phạm trù cơ bản thể hiện trong các công trình nghiên cứu [52], [48], [51], [15], [82] của của các nhà nghiên cứu tâm lí học nước Nga. 8 Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ cuối những năm 70 - 80 của thế kỉ XX. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về giao tiếp trên thế giới, các tác giả trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về giao tiếp ở những góc độ khác nhau.

Dưới góc độ tâm lí giáo dục, có thể kể đến những nghiên cứu của Hoàng Anh [3], [4], Ngô Công Hoàn [34], Nguyễn Quang Uẩn [77], Trần Trọng Thủy [73], [74], Đặng Thành Hưng [39], [40], Trần Thị Tố Oanh [64], [65], [66]. Các tác giả đều đưa ra quan niệm chi tiết về giao tiếp, bản chất của giao tiếp, vai trò của giao tiếp, phân loại giao tiếp, chỉ ra một số kĩ năng giao tiếp và đặc điểm hành vi giao tiếp. Nguyễn Văn Lê [51], Trần Trọng Thủy [73], [74], Hoàng Anh [3], [4] đã đề cập đến: Những cơ sở khoa học của giao tiếp, Mô hình giao tiếp, Chức năng giao tiếp, Loại hình giao tiếp; hệ thống các khái niệm, những chỉ dẫn về giao tiếp sư phạm; cụ thể hóa các quy tắc giao tiếp xã hội, giao tiếp sư phạm, giao tiếp trong cộng đồng và gia đình. Từ góc độ xã hội và giáo dục, Đặng Thành Hưng cho rằng: Giao tiếp là quá trình và kết quả tương tác giữa các bên tham gia thông qua những hành vi tiếp xúc, phát ra thông điệp, tiếp nhận, xử lí, chọn lọc và đánh giá thông tin từ bên kia, trao đổi, chia sẻ, ứng xử và gây ảnh hưởng lẫn nhau dựa vào các phương tiện mà các bên cùng hiểu và chấp nhận để đạt mục đích của mỗi bên.

Thiếu những điều kiện cùng hiểu và chấp nhận phương tiện giao tiếp thì giữa các bên không có giao tiếp, mà chỉ là gặp gỡ thôi. Thiếu điều kiện ảnh hưởng lẫn nhau thì cuộc tiếp xúc đó cũng không phải giao tiếp mà là tác động một chiều. Nói gọn lại giao tiếp là tương tác dựa vào thông tin, và thông tin ở đây là có ý đồ, tự giác và có nghĩa đã định, thông qua các phương tiện khác nhau (ngôn ngữ, cử chỉ, thái độ, công cụ, đồ vật.) mà hai bên cùng chấp nhận, đều hiểu và có thể chia sẻ.[39] Bên cạnh những nghiên cứu về giao tiếp trong lĩnh vực tâm lí học, giáo dục học, giao tiếp còn được nghiên cứu nhiều ở lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ [86],[12], … các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ, giao tiếp được nghiên cứu dưới nhiều góc độ: Giao 9 tiếp là phương pháp dạy học [11]; giao tiếp là nguyên tắc dạy học Tiếng Việt [60]; giao tiếp là hướng, quan điểm dạy học [19], [76]; giao tiếp là năng lực [85]; giao tiếp là kĩ năng (là kĩ năng thành phần của kĩ năng sống, kĩ năng mềm, kĩ năng xã hội) [39], [41].

Dưới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Giao tiếp là một hoạt động liên cá nhân, có chức năng truyền đạt những thông tin về sự vật, hiện tượng của thực tế (thông tin miêu tả hay thông tin sự vật) nhằm tạo ra những biến đổi trong tình cảm, trạng thái tâm lí và hoạt động giữa những người tham gia giao tiếp (thông tin liên cá nhân hay thông tin tác động). Nó cũng là nơi con người bộc lộ chính mình, mỗi chức năng trên của giao tiếp đòi hỏi phải có một loại tín hiệu phù hợp với nó” [14]. Đỗ Hữu Châu xác định các nhân tố giao tiếp là: Ngữ cảnh (nhân vật giao tiếp, hiện thực ngoài diễn ngôn), ngôn ngữ (với các phương diện: Đường kênh thính giác và thị giác của ngôn ngữ; các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng) và diễn ngôn được hiểu là “một thuật ngữ chung chỉ cách dùng ngôn ngữ, tức chỉ các sản phẩm ngôn ngữ được tạo ra do một hành động giao tiếp nào đấy” [14]. Bùi Minh Toán quan niệm “giao tiếp chính là sự tiếp xúc, giao lưu giữa người và người trong xã hội, qua đó con người bộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng và cả tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với những điều được diễn đạt,.

Theo tác giả các nhân tố giao tiếp bao gồm: Nhân vật, hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp mà thiếu chúng thì hoạt động giao tiếp không thể tiến hành được. Diệp Quang Ban cho rằng: “Giao tiếp là hiện tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó. Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể không phải là xã hội” [8; Tr. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về giao tiếp khá phong phú, và giao tiếp được xem xét ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, có giao tiếp trong kinh doanh, giao tiếp sư phạm, giao tiếp văn học, giao tiếp trong gia đình,… Dù ở lĩnh vực nào thì các công trình nghiên cứu đều khẳng định: Giao 10 tiếp là hoạt động quan trọng bậc nhất của con người, không chỉ giúp trao đổi thông tin và còn giúp tạo lập quan hệ người, thể hiện tình cảm, cảm xúc của con người với nhau.

Nghiên cứu về quan điểm giao tiếp Dạy học văn bản dạng nói và dạng viết trong giao tiếp, bằng giao tiếp và để giao tiếp là xu hướng hiện đại trong chương trình dạy học tiếng mẹ đẻ của nhiều quốc gia. Theo Nguyễn Trí, nguyên tắc chỉ đạo việc quy hoạch, tổ chức dạy tiếng mẹ đẻ ở chương trình học của các nước trên thế giới là triệt để phục vụ cho năng lực giao tiếp của họ. Chương trình dạy tiếng Pháp bang Quebec, Canada quy định “Việc giảng dạy tiếng Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ và trong lớp học tiếng Pháp, học sinh phải luôn luôn được đặt vào tình huống giao tiếp“ [76; Tr. Chương trình dạy tiếng mẹ đẻ ở Malaisia viết: “Chương trình dạy tiếng mẹ đẻ ở Malaisia bao gồm những kĩ năng cơ bản về nghe nói đọc viết nhằm làm cho học sinh sử dụng lời nói vì những mục đích thực tiễn và sáng tạọ [76; Tr.

Ở Việt Nam, “Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp” là vấn đề đã được lưu tâm từ lâu. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định dạy học theo hướng giao tiếp là một hướng đi đúng. Có thể điểm đến một vài công trình nghiên cứu về dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp được nhiều người quan tâm như: Về việc dạy tiếng ở trường phổ thông (Nguyễn Minh Thuyết) [73]; Giao tiếp ngôn ngữ và vấn đề dạy bản ngữ (Trương Dĩnh) [18]; Về quan điểm giao tiếp trong giảng dạy tiếng Việt (Bùi Minh Toán) [75]; Một số vấn đề về ngôn bản nói và ngôn bản viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp (Nguyễn Quang Ninh) [58]; Dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp [76]; Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong dạy học Tiếng Việt (Đỗ Việt Hùng) [34];… Trong Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt, tập 2 [60] do các tác giả Lê Phương Nga – Nguyễn Trí biên soạn có tám chương, trong đó các tác giả dành một chương để nói về QĐGT trong dạy học Tiếng Việt. Trong chương một các tác giả nói khá rõ về: Giao tiếp và hoạt động giao tiếp; Những 11 cơ sở của quan điểm giao tiếp trong dạy học TV; Sự thể hiện của quan điểm giao tiếp trong việc dạy học TV.

Trong một nghiên cứu khác của Lê Phương Nga Dạy học các tri thức Tiếng Việt ở Tiểu học theo quan điểm giao tiếp đã trả lời câu hỏi: Thế nào là dạy học các tri thức Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp“ dựa trên các luận điểm sau: Dạy học các tri thức Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp đòi hỏi phải thống nhất chức năng hướng nội và chức năng hướng ngoại của ngôn ngữ; Dạy học các tri thức tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp đòi hỏi phải tối giản hóa quá trình nhận diện, phân loại, phân tích các đơn vị ngôn ngữ, kiểu loại ngôn ngữ trong giao tiếp; phải đặt quá trình hình thành tri thức tiếng Việt trong hai quá trình sản sinh và tạo lập ngôn bản [63; tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Dạy Học Đọc Hiểu Văn Bản Truyện Cho Học Sinh Lớp 4, 5 Theo Quan Điểm Giao Tiếp" cung cấp những phương pháp hiệu quả để nâng cao khả năng đọc hiểu cho học sinh tiểu học thông qua việc áp dụng quan điểm giao tiếp. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng giao tiếp trong quá trình học tập, giúp học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn có khả năng diễn đạt và trao đổi ý tưởng một cách tự tin.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm các chiến lược giảng dạy cụ thể, hoạt động tương tác và cách thức đánh giá hiệu quả học tập. Những kiến thức này không chỉ giúp giáo viên cải thiện phương pháp giảng dạy mà còn hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện hơn.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực học sinh, hãy tham khảo các tài liệu liên quan như Dạy học luyện từ và câu cho học sinh lớp 5 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp, nơi bạn có thể tìm hiểu thêm về việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh. Ngoài ra, tài liệu Vận dụng hình thức nhật kí đọc sách vào việc dạy đọc hiểu văn bản thơ ở trường phổ thông sẽ cung cấp cho bạn những phương pháp sáng tạo trong việc dạy đọc hiểu. Cuối cùng, tài liệu Biện pháp nâng cao năng lực kể chuyện cho học sinh lớp 5 cũng là một nguồn tài liệu quý giá để phát triển kỹ năng kể chuyện và giao tiếp cho học sinh.