Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm - Nhân lực Từ điển tiếng Việt, trung tâm Từ điển, nhà xuất bản Đà Nẵng, 1997 cho rằng: “Nhân lực là sức người về mặt dùng trong lao động sản xuất”. Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực trong thân thể của một con người.
Theo khái niệm trên thì sức lao động chỉ tồn tại khi người đó sống, nghĩa là sức lao động là sản phẩm của lịch sử, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên duy trì và khôi phục sau mỗi quá trình lao động. Thể lực của con người phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe, mức sống, mức thu nhập, chế độ sinh hoạt, y tế, tuổi tác hay giới tính. trong khi đó trí lực lại phụ thuộc vào năng khiếu bẩm sinh, quá trình học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân. Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, thì thể lực đã được khai thác triệt để, nhưng trí lực lại chưa được khai thác một cách hiệu quả.
Khác với thể lực có giới hạn, thì trí lực dường như là vô hạn. Tuy nhiên cùng với sự hoàn thiện của khoa học quản trị nguồn nhân lực, các tổ chức ngày nay đã quan tâm đến việc khai thác các khía cạnh của trí lực như: tài năng, quan điểm, lòng tin, nhân cách. của người lao động để phục vụ cho mục tiêu phát triển của tổ chức. - Nguồn nhân lực + Nguồn nhân lực: có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Theo Ngân hàng thế giới thì: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ tiềm năng về vốn người bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực mà mỗi cá nhân sở hữu”, theo UNESCO thì: “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh Luan van 8 nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [27]. Theo Phạm Minh Hạc: “Nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [12]. Theo Lê Du Phong: “Nguồn lực con người được hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động của con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người” [14].
Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với nền khoa học, công nghệ hiện đại” [11]. Như vậy, tùy theo cách tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Tuy nhiên, điểm chính thống nhất của các quan niệm này là nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng và năng lực của con người được huy động vào trong quá trình lao động sản xuất và phát triển của một quốc gia hay một địa phương. Nguồn nhân lực được đặc trưng bởi hai yếu tố cơ bản: số lượng và chất lượng.
Về số lượng: có nhiều cách quan niệm và tính toán qui mô nguồn nhân lực. Đối với Việt Nam thì số lượng nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không tính đến tình trạng có việc làm hoặc không có việc làm. Theo qui định của Bộ Luật Lao động thì nguồn lao động bao gồm nam tuổi từ 15 đến 60, nữ tuổi từ 15 đến 55 có khả năng lao động. Luan van 9 Những quan điểm gần đây về nguồn nhân lực cho rằng, nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người có việc làm và những người thất nghiệp.
Theo đó, thì nguồn nhân lực bao gồm cả những người trước hoặc trên tuổi lao động thực tế đang làm việc. Quan điểm này mang tính thực tiễn hơn nhất là đối với các nước đang phát triển có một số lượng khá lớn vị thành niên, người trên tuổi lao động tham gia lao động ở các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Về chất lượng: chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực, trí lực.
Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe vừa là mục đích của phát triển, đồng thời nó cũng là điều kiện của sự phát triển. Sức khỏe của con người chịu tác động của nhiều yếu tố: tự nhiên, kinh tế, xã hội và được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu cơ bản về sức khỏe, bệnh tật và các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Các chỉ số sức khỏe thường được dùng là: chỉ số về thể chất (cân nặng, chiều cao), chỉ số về tuổi thọ trung bình, chỉ số thông minh… Trí lực của nguồn nhân lực: ngoài các yêu cầu về thể lực, trí lực là một yếu tố không thể thiếu của người lao động. Sự phát triển của khoa học và công nghệ yêu cầu người lao động phải có trình độ học vấn cơ bản, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động tốt để tiếp thu, áp dụng sáng tạo các thành tựu khoa học và công nghệ, làm việc chủ động, linh hoạt và sáng tạo, sử dụng được các công cụ, phương tiện lao động hiện đại, tiên tiến.
Nhân tố trí lực của nguồn nhân lực thường được xem xét, đánh giá dựa vào trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động. Trình độ văn hóa: là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống. Luan van 10 Trình độ văn hóa được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình học tập suốt đời của mỗi cá nhân và được đánh giá qua 2 chỉ tiêu: tỷ lệ dân số biết chữ và số năm đi học trung bình của dân số tính từ 25 tuổi trở lên. Trình độ chuyên môn kỹ thuật: là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm đương các nhiệm vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp.
Các chỉ tiêu đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực gồm: tỷ lệ lao động đã qua đào tạo, tỷ lệ theo cấp bậc đào tạo (sơ học, trung học, đại học và sau đại học). Phẩm chất tâm lý xã hội của nguồn nhân lực: quá trình lao động đòi hỏi người lao động hàng loạt phẩm chất như tính kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao…Để đánh giá yếu tố này rất khó dùng phương pháp thống kê và xác định các chỉ tiêu định lượng như các yếu tố thể lực và trí lực. Vì vậy, các phương pháp điều tra tâm lý và xã hội học thường được sử dụng để đánh giá phẩm chất tâm lý xã hội. Để đánh giá một cách tổng hợp chất lượng nguồn nhân lực, cơ quan phát triển của Liên Hiệp Quốc đã khuyến nghị và áp dụng nhiều phương pháp để đánh giá sự phát triển con người, trong đó phương pháp xác định chỉ số phát triển con người đang được sử dụng rộng rãi để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia.
Theo phương pháp này thì sự phát triển con người được xác định theo ba yếu tố cơ bản nhất và tổng hợp nhất: sức khỏe, trình độ học vấn và thu nhập: - Về sức khỏe được xác định qua tiêu chuẩn tuổi thọ trung bình của dân số; - Về học vấn được xác định qua hai chỉ tiêu: tỷ lệ dân số biết chữ; số năm đi học của một người (tính từ 25 tuổi trở lên); Luan van 11 - Về thu nhập được xác định qua chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước GDP/người [5]. + Nguồn nhân lực y tế: theo TCYTTG: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe”. Theo đó, nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả các nhân viên hỗ trợ khác mà không trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế [35]. Theo định nghĩa trên thì ở Việt Nam những người được xem là “nhân viên y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, công chức, viên chức thuộc biên chế và hợp đồng đang làm việc trong các cơ sở y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y, dược và tất cả những người tham gia vào các hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (y tế tư nhân, nhân viên y tế thôn, cộng tác viên y tế, bà đỡ dân gian, lang y…).
Về phân loại nhân lực y tế, TCYTTG dựa trên hệ thống phân loại quốc tế của tổ chức Lao động quốc tế, tổ chức Văn hóa, Giáo dục, Khoa học của Liên Hiệp Quốc và Vụ Thống kê của Liên Hiệp Quốc để đưa ra 2 cách phân loại theo cách “kết hợp” và “không kết hợp”. Theo cách “kết hợp” thì nhân lực y tế được chia làm 9 nhóm bao gồm: thầy thuốc (bác sỹ đa khoa và chuyên khoa); điều dưỡng và hộ sinh; nhân viên nha khoa; nhân viên dược; những người làm ở phòng xét nghiệm; nhân viên y tế công cộng và môi trường; nhân viên y tế cộng đồng và dân gian (lang y); các nhân viên y tế khác (nhân viên tiết chế, dinh dưỡng, vận hành thiết bị y tế, vật lý trị liệu…); các cán bộ quản lý y tế và nhân viên hỗ trợ. Theo cách “không kết hợp” thì nhân lực y tế được chia làm 18 nhóm, theo cách này thì điều dưỡng và hộ sinh được tách riêng, nhóm nhân viên nha khoa được tách làm 2 nhóm (bác sỹ nha khoa và kỹ thuật viên nha khoa), Luan van 12 dược sỹ cũng được tách thành 2 nhóm (dược sỹ và dược tá), nhóm những người làm trong phòng chụp X quang cũng được tách khỏi nhóm xét nghiệm…[34]. Ở Việt Nam, theo Niên giám thống kê của Bộ Y tế thì nhân viên y tế được chia thành nhóm có trình độ chuyên môn y, dược theo thứ bậc về trình độ chuyên môn và nhóm không có trình độ chuyên môn y, dược.